NĂM LINH MỤC

 

Linh mục, Người là ai?

Ví như Tôn Tẩn đă nói răng: “Tri kỹ tri bỉ, bách chiến bách thắng” (Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng), th́ linh mục chúng ta, trong cuộc chiến đấu vật lộn với đời, chúng ta cần phải biết chính ḿnh.

Hôm nay, xin nói về vấn đề: “Linh mục, người là ai?”

Để đào tạo linh mục, Giáo Hội phải tốn bao nhiêu công sức và thời gian. Chúng ta là người trong cuộc, nhiều khi gần quá hóa quen, nên ít khi đặt lại vấn đề, ít khi xét lại để thấy căn tính của ḿnh. Hôm nay trong những ngày pḥng ngắn ngủi này, chúng ta hăy dành một ít phút để suy gẫm về chính ḿnh, rà soát lại xem thế nào là linh mục đích thực, và chúng ta đă sống thiên chức linh mục ấy thế nào.

Vậy, linh mục, người là ai?

H́nh ảnh của linh mục rất đa dạng nơi cảm nghĩ của dân chúng. Cách đây ba bốn mươi năm, linh mục là người dâng thánh lễ, cử hành các Bí tích, giảng dạy đức tin, luân lư, Kinh Thánh, là con người của Giáo Hội, độc thân, xa ĺa thế gian, mặc áo ḍng đen, một viên chức có quyền thế, một nhà quư phái có bàn tay trắng. Nhưng gần đây hơn, danh từ linh mục gợi lên trong trí óc người ta, h́nh ảnh của một người bạn nghèo, có bàn tay chai cứng, đấu tranh cho ḥa b́nh, cho độc lập, cho tự do, tham gia chính trị, vận động yêu nước, chống tham nhũng…

Những ư tưởng chồng chất ngổn ngang, có khi mâu thuẫn và hời hợt như người ta móc đầy áo đủ loại trên một cái móc áo. Chúng ta hăy bắt đầu cởi bỏ những ǵ gán cho linh mục và chỉ giữ lại thực chất của linh mục, được truyền thống giới thiệu bắt đầu từ Chúa Giêsu cho đến các linh mục ngày nay.

Đă từ lâu, các nhà thần học, v́ muốn truy t́m chính xác, đă tháo gỡ guồng máy Giáo Hội ra và đă định vị từng bộ phận. Do đó, họ đưa Đức Giáo Hoàng ra khỏi Giám mục đoàn, Giám mục ra khỏi linh mục đơn giản, tu sĩ ra khỏi những người được rửa tội, linh mục khỏi giáo dân, Đức Nữ Đồng Trinh khỏi các thánh khác và khỏi Hội Thánh chung chung, bảy phép Bí tích ra khỏi những động tác Bí tích của Hội Thánh. Tháo rời như vậy để hiểu rơ hơn từng bộ phận một.

Giờ đây, có chiều hướng đổi ngược. Các nghị phụ Công Đồng Vatican II cũng như các nhà thần học mới, ráp lại, đặt các bộ phận vào trong toàn khối. Họ đặt Đức Giáo Hoàng trong Giám mục đoàn và trong Hội Thánh (Phêrô tuy đứng đầu, nhưng cũng là một trong nhóm 12 và nhóm 12 cũng là toàn thể dân Chúa), đặt linh mục trong cộng đoàn tín hữu, đặt đời sống tu tŕ trong đời sống những người được rửa tội, đặt các Bí tích trong Hội Thánh và Hội Thánh được coi là Bí tích Mẹ, đặt Đức Trinh Nữ Maria vào Mầu nhiệm Chúa Kitô và Hội Thánh Người.

Đặc biệt đối với các linh mục, sự biến cải hiện thời của lịch sử, liên kết với nền thần học mới, đưa linh mục trở về hàng ngũ thực sự của ḿnh. Ngày nay, linh mục có uy tín và thế giá, không phải chỉ v́ ông được thụ phong linh mục, có chức thánh, mà quan trọng là do đời sống tông đồ và mục vụ của ḿnh. Bởi lẽ, xưa kia người ta coi linh mục là người thông biết mọi sự. Ngày nay, cùng với sự phổ thông văn hóa, linh mục không c̣n là người duy nhất nắm giữ kiến thức. Người giáo dân bây giờ cũng thông thái, có khả năng chuyên môn, ngay cả cũng đào sâu Kinh Thánh, giáo luật; có những người có bằng cấp cao trong các trường đại học công giáo. C̣n về tu đức, có những giáo dân được công nhận như bậc thầy. Họ cũng giảng pḥng, làm cố vấn thiêng liêng như các linh mục, chẳng hạn như anh Francois Duff, sáng lập Legio Mariae.

Đàng khác, trong xă hội tục hóa hiện nay, các linh mục không có vai tṛ nổi bật nữa. Không c̣n lối sống riêng cho linh mục nữa, không có chỗ dành riêng cho các linh mục trên khán đài danh dự nữa. Linh mục cũng không than phiền về vấn đề này. Không c̣n là tai mắt đáng được để ư, linh mục lấy làm hạnh phúc sống ḥa ḿnh trong cộng đoàn huynh đệ, thích làm một tín hữu giữa các tín hữu, thích làm một công dân như các công dân khác.

Nhưng không phải v́ thế mà chúng ta từ bỏ căn tính độc đáo của linh mục. Trong thánh lễ truyền chức linh mục, Đức Giám Mục hỏi ứng viên:

- “Con quư mến, con có muốn trở thành linh mục, cộng tác viên của Giám Mục trong chức linh mục, để phục vụ và dẫn dắt Dân Chúa dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần không?”

- “Con có muốn trung thành chu toàn tác vụ Lời Chúa, nghĩa là rao giảng Tin mừng và tŕnh bày giáo lư Đức Tin công giáo theo truyền thống của Hội Thánh để ngợi khen Thiên Chúa và thánh hóa Dân Kitô giáo không?”

- “Con có muốn mỗi ngày kết hiệp với Linh Mục Thượng Phẩm là Chúa Kitô, Đấng tận hiến ḿnh cho Cha Người và với Người, thánh hiến con cho Thiên Chúa để cứu rỗi loài người không ?”

Sau khi ưng thuận và hứa vâng phục Đức Giám Mục, tiến chức đến quỳ gối đặt tay vào ḷng bàn tay Đức Giám Mục. Rồi cộng đoàn đọc kinh cầu Các Thánh, cả triều thần thánh, cộng đoàn Dân Chúa đều tập hợp và cầu nguyện cho tiến chức đang nằm phủ phục dưới đất. Đó là h́nh ảnh tuyệt đẹp, gây xúc động trong ngày thụ phong linh mục.

Các câu hỏi trên đây tŕnh bày súc tích căn tính của linh mục, đó là hợp tác với Giám Mục điều hành dân Chúa, rao giảng Lời Chúa và trao ban các Bí tích. Làm mọi sự liên kết Đức Giám Mục trong kính trọng và vâng lời. Nói cách khác, linh mục là hiện thân của Đức Kitô, làm đầu của Nhiệm Thể Người là Hội Thánh, kéo dài sự nghiệp Chúa Giêsu ở trần gian để điều hành Dân Chúa, thánh hóa và rao giảng Tin mừng. Nếu thánh Phaolô đă nhận xét về ḿnh trong câu bất hủ: “Nay tôi sống, nhưng không c̣n là tôi, mà Chúa Kitô sống trong tôi”, th́ linh mục cũng có thể khiêm tốn tự hào nói lên: “Nay tôi nói và làm, nhưng không c̣n là tôi, mà Chúa Kitô nói và làm qua tôi”.

Khi nh́n ngắm đóa hoa phô sắc trên bàn thờ, người ta dễ quên đi quá tŕnh h́nh thành của nó. Nếu chúng ta theo dơi cây hoa từ khi mới được ươm trong vườn, nó phải chống chọi với sương nắng, với gió lạnh, đương đầu với khí nóng, phải hút lấy nhựa sống, hô hấp khí trời và thải ra những chất carbon. Tất cả những tiến tŕnh này phải lựa chọn và từ bỏ liên tục mới đi đến thành công, giúp chúng ta đánh giá đúng mức sự quư báu của đóa hoa mà chúng ta đang nh́n ngắm.

Cũng vậy, từ một cậu bé chập chững đi vào Tiểu Chủng Viện với cả một trời bí mật bao trùm trên con đường ơn gọi cho đến lúc lớn khôn, trưởng thành dần dần, chú rồi thầy, rồi mới đến cha, bao nhiêu là thử thách, bao nhiêu là cố gắng, bao nhiêu là kiên nhẫn đợi chờ. Quá khứ nặng nề ấy chúng ta đă vượt qua, nhưng đàng trước, là bổn phận, là trách nhiệm. Đời sống linh mục có vẻ đầy đủ, có khi khá huy hoàng, nhưng là đời sống hy sinh, phục vụ quên ḿnh, th́ làm sao không đau khổ. Trách nhiệm chồng chất, trách nhiệm trong sự đều đều đến kinh sợ, và trước tiên, là đời sống cô độc. Có thể ví cuộc đời linh mục với thân phận con gà treo, tuy bên ngoài đầy đủ thức ăn nước uống, nhưng phải đứng im trong ô chuồng không cựa quậy, trong một không gian chật hẹp, mỗi ngày có bổn phận đẻ cho chủ một quả trứng, không được đi đó đi đây, không được bươi móc như các con gà khác, v́ nếu được tự do thong thả th́ mất trứng.

Trong xă hội vật chất và hưởng thụ, người ta bảo đời sống linh mục như vậy là g̣ bó, không thoải mái. Nhưng có đời sống nào trên trần gian này hoàn toàn thoải mái? Công nhân, thợ thuyền, giáo chức, nông dân, thương gia, sinh viên…, mỗi người cũng phải nai lưng làm việc, phải chu toàn mọi trách nhiệm của ḿnh, phải đấu tranh vật lộn với đời và phải tuân thủ mọi lề luật. Chỉ có lúc ngủ quên hay chết, chớ không bao giờ nói đến chuyện thoải mái, nếu mỗi người muốn sống nghiêm chỉnh theo căn tính của ḿnh.

C̣n hơn thế nữa, linh mục là người của muôn người, được sai đi để phục vụ, để làm đầy tớ thiên hạ, thế tất phải sống đời hy sinh, c̣n lâu và c̣n xa mới nói đến chuyện thoải mái vô tư trong đời sống mục vụ. Đúng như Cha Chevrier đă nói: “Linh mục là người bị ăn”. Bị ăn, thế tất phải hao ṃn thân xác và tinh thần.

Không thể nghe theo những kẻ bệnh hoạn, kêu la ầm ỹ, lượng định cách lệch lạc giá trị cao cả của chức linh mục. C̣n tệ hơn nữa, là đang mang trong ḿnh kho tàng quư báu, không biết coi trọng, lại làm hoạt kê chân dung linh mục trong đời sống ḿnh. Đa số 90% linh mục âm thầm làm việc, tiến bước trên con đường trọn lành bằng những bước chân vững chắc, can đảm đương đầu với mọi thử thách gian lao. Những người không sanh sự, không khoác lác, ồn ào th́ không được dư luận để ư đến, c̣n thiểu số kia bỏ cuộc, th́ báo chí, truyền thanh, truyền h́nh làm rùm beng gây tiếng vang ầm ỷ. Sức sống thiêng liêng do các linh mục mang lại đang trào dâng từ đầu năo, lan tỏa khắp thân thể là Giáo Hội. Tại sao nói là đầu năo? Bởi lẽ linh mục, hiện thân cho Chúa Giêsu, là Đầu của Thân Thể Người là Giáo Hội. Trong sắc lệnh về “Chức vụ và Đời sống linh mục”, Công Đồng Vatican II có dạy: “V́ được liên kết với chức Giám Mục, nên chức năng của các linh mục cũng tham dự vào quyền bính mà chính Đức Kitô đă dùng để kiến tạo, thánh hóa và cai quản thân ḿnh Người. V́ vậy, chức linh mục tuy dựa trên các Bí tích khai tâm Kitô giáo (rửa tội, thêm sức và Thánh Thể), nhưng lại được một Bí tích riêng in dấu đặc biệt khi họ được Chúa Thánh Thần xức dầu và làm cho nên giống Chúa Kitô Linh Mục, hầu làm cho họ có khả năng nhân danh Đức Kitô Đầu mà hành động”.

Trong quyển sách tựa đề “H́nh ảnh mới của Hội Thánh”, Đức cha Ancel viết như sau: “Muốn hiểu các linh mục, phải nh́n vào Giám Mục; muốn hiểu các Giám Mục, phải nh́n vào các tông đồ;muốn hiểu các tông đồ, phải nh́n vào Đức Kitô xét như Đầu của thân thể, là Đấng sáng lập và cứu chuộc Hội Thánh, một Hội Thánh đang nhờ trung gian của Chúa Thánh Thần mà Người đă sai đến để giảng dạy, thánh hóa và dẫn đưa mọi người về với Chúa Cha”.

Như vậy, linh mục vừa là người được rửa tội, trước hết và luôn luôn, linh mục ở trong cộng đoàn tư tế của dân Chúa, là chi thể cùng với các chi thể khác trong thân ḿnh của Đức Kitô.

Vừa là người được truyền chức, linh mục đồng thời cũng là người đứng trước cộng đoàn, như thể một ai khác đang triệu tập và nói với cộng đoàn, như thể là Đầu của Thân Ḿnh ấy.

Như vậy, chúng ta có thể rút từ đây, những phận sự chính yếu của linh mục là rao giảng Tin mừng, cử hành các Bí tích và dẫn dắt đoàn chiên Chúa giao phó.

Linh mục là cộng sự viên của Giám mục, nên trước tiên có nhiệm vụ loan báo Tin mừng của Thiên Chúa. Lănh nhưng không, phải cho nhưng không. Lănh Lời Chúa để phát, linh mục mắc nợ với mọi người. Các linh mục phải thông truyền chân lư Tin mừng mà Chúa đă trao cho họ và phải ra sức thực hiện điều này trong mọi trường hợp, dù khi họ sống một cuộc đời tốt đẹp gương mẫu giữa dân ngoại, lôi kéo dân ngoại ca tụng Thiên Chúa, dù khi họ công khai giảng thuyết cho những người chưa tin, dù khi họ dạy giáo lư Kitô giáo hay giải thích học thuyết của Hội Thánh cho các tín hữu, hoặc chuyên lo nghiên cứu những vấn đề thời đại đi nữa, nhất là chu toàn bổn phận truyền giáo đối với lương dân.

Cha Andrée Depierre đă viết trong quyển “Gió muốn thổi đâu th́ thổi” những lời trăn trở sau đây: “Tôi thiết tưởng không phù hợp với Kitô giáo khi đa số linh mục đều phục vụ các cộng đoàn dân Chúa được quy tụ trong Hội Thánh và chỉ một số nhỏ các linh mục lo cho những người chưa nhận biết Đức Kitô, mà số này đông biết bao”.

Phận sự thứ hai của linh mục là thánh hóa Dân Chúa: các linh mục được Thiên Chúa hiến thánh để tham dự đặc biệt vào chức linh mục của Chúa Kitô và để trong khi cử hành các việc thánh, họ hành động như những thừa tác viên của Đấng, nhờ Thánh Thần của ḿnh, vẫn không ngừng thi hành chức vụ để mưu ích cho chúng ta. Thực vậy, nhờ phép rửa, họ dẫn đưa con người gia nhập vào Dân Thiên Chúa; nhờ Bí tích thống hối, họ giao ḥa tội nhân với Thiên Chúa và Hội Thánh; nhờ việc xức dầu bệnh nhân, họ xoa dịu những ai đang đau đớn; nhất là nhờ việc cử hành thánh lễ, họ tiến dâng hy lễ của Đức Kitô cách Bí tích. Như thế, tiệc Thánh Thể là trung tâm của cộng đoàn tín hữu mà chủ sự là linh mục. Ngoài ra, kinh Nhật Tụng hay Phụng Vụ Các Giờ Kinh làm cho linh mục kéo dài thánh lễ suốt ngày, đồng thời qua đó, các linh mục nhân danh Giáo Hội, thành khẩn cầu cùng Thiên Chúa cho toàn dân đă được trao phó cho các Ngài, và hơn nữa, các Ngài cầu cho toàn thể thế giới.

Thừa tác vụ thứ ba là làm chủ chăn Dân Thiên Chúa. Tuy phân biệt thừa tác vụ linh mục làm ba chức năng như xưa nay, đáp ứng với những khía cạnh thật của sứ mệnh linh mục, nhưng trong cụ thể, khi sinh hoạt, th́ cả ba gắn liền và ḥa trộn lẫn nhau chẳng khác nào việc hô hấp, tiêu hóa và tuần hoàn trong cùng một cơ thể. Lời Chúa không ngừng lại ở ngưỡng cửa Bí tích, trái lại ở đó, nó c̣n âm vang mạnh mẽ v́ tất cả các Bí tích đều là những Bí tích đức tin. Cũng vậy, chức vụ chủ chăn quy tụ Dân Chúa không phải là chuyện làm sau khi cử hành xong phép Thánh Thể, nhưng là quy tụ để cử hành Thánh Thể. Một khi đă dành ưu tiên cho việc phúc âm hóa và quan tâm đến các con chiên lạc, th́ các bổn phận khác sẽ được bảo đảm và ḥa chung trong một chức vụ chăn chiên. Như vậy, linh mục là người quy tụ mọi người trong Đức Kitô Giêsu, xây dựng cộng đồng, mở rộng cộng đồng ấy và liên kết với mọi cộng đồng trên thế giới, nói cách khác, đào tạo và làm tăng trưởng Thân Thể Chúa Kitô.

Sau khi ôn kỹ bản chất và các chức năng của linh mục, chúng ta hăy xét xem chúng ta sống chính danh như thế nào. Mỗi ngày chúng ta có luôn trau dồi kiến thức về Kinh Thánh để rao giảng không phải lời riêng của ḿnh, mà Lời Chúa cho giáo dân đang khao khát của ăn nuôi hồn không ? Chúng ta có chịu khó suy gẫm trước và thực hành những điều chúng ta phải tŕnh bày cho dân Chúa không? Hay chúng ta đă lợi dụng ṭa giảng như diễn đàn để tranh biện, để tự khẳng định ḿnh hoặc chửi mắng la rầy giáo dân? Thật ra, có lúc cần phải sửa dạy, nhưng luôn dùng lời tao nhă, luôn dùng văn từ sao cho xứng với thiên chức linh mục của ḿnh. Hăy bắt chước tiên tri Nathan khi phải sửa sai Đavit.

Chúng ta có luôn ra sức dâng lễ sốt sắng, không đọc lua láu quá nhanh hay kề cà quá chậm, làm sao cho Dân Chúa tham dự thánh lễ sốt sắng và tiếp cận với hy lễ tuyệt vời này một cách hữu ích để lănh nhận tối đa ơn thánh không?

Hăy rà soát lại cung cách chúng ta giải tội. Có coi đó như một phương tiện tốt để ḥa giải nhân loại với Chúa, những người anh em với nhau, hay coi đó chỉ là xâu bơi cực nhọc?

Linh mục trong ṭa giải tội đóng nhiều vai tṛ tế nhị: vừa là cha, là thầy thuốc, là bạn, vừa là thẩm phán, nhưng cũng là thầy dạy, là mẹ hiền.

·    -Chúng ta có sẵn sàng giải tội khi giáo dân cần đến, hay chúng ta cứng nhắc tính giờ định khắc để biến việc xưng tội của giáo dân thành khổ cực và đáng ngại không?

·    -Chúng ta có sẵn sàng đi kẻ liệt vào bất cứ giờ nào trong niềm xác tín đây là dịp cuối cùng để chúng ta tiễn đưa một cách quyết định người con chiên của chúng ta vào cơi sống muôn đời không?

·    -Chúng ta có chuẩn bị thanh niên nam nữ đi vào cuộc hôn nhân cách chu đáo không?

·    -Chúng ta có tích cực t́m hiểu ơn gọi, nuôi lấy những mầm non để sau này đưa các thanh niên ấy vào các ḍng tu, các chủng viện, và tích cực tạo điều kiện tốt để họ sống đời sống dâng hiến trong tôn thờ và phục vụ đắc lực hơn không?

·    -Chúng ta có làm mọi sự với nhiệt t́nh Nhà Chúa không?

·    -Trong đời sống mục vụ, trong giáo xứ, trong môi trường đào tạo, chúng ta có cư xử đầy t́nh bác ái và xây dựng với những cộng sự viên của chúng ta không?

·    -Chúng ta có để cho các linh mục đồng nghiệp, cho những ông câu, ông biện, những người trong ban hành giáo có sáng kiến không? Chúng ta có tôn trọng những đề nghị của họ không?

·    -Chúng ta có lắng nghe trong đối thoại chân thành và quyết định cách khách quan không? Hay chúng ta biến họ thành những dụng cụ sai vặt như những người đầy tớ phải tuyệt đối vâng lời ông chủ? Chúng ta có bóp chết mọi sáng kiến của họ, chỉ đề cao cá nhân của ḿnh một cách chủ quan, chỉ cho ḿnh là trung tâm truyệt đối bất khả ngộ?

·    -Chúng ta có ra sức tổ chức các lớp giáo lư có hệ thống, có t́m những giáo lư viên đắc lực, có sắp xếp các lớp theo lứa tuổi và theo nhu cầu?

·    -Chúng ta có t́m mọi cách biết rơ con chiên của ḿnh để tận t́nh giúp đỡ hay là dửng dưng sống chết mặc bay?

·    -Trong đời sống xă hội, với người lương cũng như giáo, chúng ta có ngay thẳng trong lời nói, trong phong cách, trong lối đối xử, cách ăn uống, nhất nhất phải ư tứ cẩn thận, v́ qua đời sống của linh mục, người ta phải nhận ra dáng dấp của Chúa Giêsu Cứu Thế?

Những tiêu chuẩn được đưa ra cho các linh mục xưa nay là: Thánh thiện, nhiệt thành, trở nên muối đất đèn đời, hoàn toàn quên ḿnh trong sứ vụ, bất chấp khó khăn, hoạt động hăng say dưới nhiều h́nh thức khác nhau để mở mang Nước Chúa, nêu gương nhân đức, chăm lo cho con chiên cả tinh thần lẫn vật chất. Muốn đạt được những tiêu chuẩn ấy, linh mục cần phải tự huấn luyện ḿnh quảng đại, nhiệt thành, nội tâm sâu sắc, sống giản dị, phục vụ tận t́nh, sẵn sàng đối thoại không định kiến

Như vậy có quá đ̣i hỏi nơi linh mục hay không?

Tại sao phải dồn hết gánh nặng trên vai của linh mục?

Đúng là sứ vụ của linh mục rất vinh dự nhưng cũng rất nặng nề. Một viên ngọc quư được đặt trong b́nh sành. Nhưng có Chúa ở cùng, chúng ta không lo sợ. V́ theo sát gót Chúa Giêsu, nên bổn phận chúng ta cũng làm con người-Chúa như chính Đức Kitô. Có nghĩa là làm trung gian giữa trời và đất.

Sau đây tôi xin giới thiệu một chứng nhân anh hùng: suốt đời chứng nhân đó đă theo sát gót Chúa Giêsu trong ơn gọi của ḿnh. Người đó là cha Đamiên, biệt danh tông đồ người hủi ở đảo Molokai, một đảo nằm trong quần đảo Hawai, giữa Thái b́nh dương. Tại đây, từ 700 đến 800 người mắc bệnh phong hủi đàn ông, đàn bà, trẻ con chồng chất trong một pḥng nhỏ của đảo, bị đuổi ra khỏi những đảo lân cận mà trước kia họ ở, để khỏi lây bệnh cho người khác. Mảnh đất chật hẹp dành cho họ phía trước mặt là đại dương, phía sau là một dăy núi sừng sững bao quanh, khó bề thoát ra được. Lúc đó, người ta đă biết rơ thế nào là phong cùi: một bệnh làm cho thân xác mỗi ngày thêm thối rữa, người ta chứng kiến cảnh thối dần, thối dần, cho tới khi toàn thân biền thành cái thây ma. Khi bệnh phát hiện, người ta biết từ đây trở nên dị dạng dị h́nh, không thuốc men, chỉ có một việc là chờ chết.

Mọi người chỉ sống trong những túp lều cất bằng gốc cây già và lợp lá; quần áo của họ chỉ c̣n là những tấm giẻ rách thối tha. Nước quá thiếu để được tắm sạch, muốn có một chút khí để thở phải ra khỏi lều. Người bệnh nhẹ luôn bị ám ảnh trước mắt ḿnh những khuôn mặt biến dạng, tay chân cụt ngủn đầy những ung nhọt, và rơi rụng dần dần, xông ra những mùi nồng nặc. Rồi đây họ cũng sẽ trở nên giống như vậy. Không ai săn sóc họ, họ chỉ sống nhờ nguồn tiếp tế duy nhất đến từ chính phủ Hawai. Khi dù mang thực phẩm được thả xuống, họ cướp giật tranh nhau, họ không thiết ǵ canh tác trồng trọt, chỉ có một điều cần duy nhất là rượu, uống rượu để quên hết những đau khổ và ưu phiền. Với những người mới đến, người ta tuyên bố ở đây không có luật lệ ǵ hết. Đó là sự thất vọng hoàn toàn, một sự dơ bẩn ghê tởm nhất. Không có ai mang lại cho những người xấu số này một chút hy vọng sao? Cho tới lúc đó, chỉ có những nhà truyền giáo tạm dừng chân một vài ngày rồi lại đi mất, nhưng Thiên Chúa đă không thể bỏ con cái Ngài.

Năm 1873, một nhóm sáu nhà truyền giáo họp với Đức Giám mục. Đức Giám mục bày tỏ: “Khắp nơi trong địa phận nhà đă được Phúc âm hóa”. Một trong các vị truyền giáo trả lời: “Thưa Đức Cha, Đức Cha đă quên một ḥn đảo, phải, ḥn đảo đó là Molokai. Các nơi khác có thể là thiên đàng, nhưng Molokai quả là một hỏa ngục”. Một vị khác tuyên bố: “Con đây sẵn sàng được chôn sống giữa họ”. Mọi người quay nh́n vị truyền giáo đó và nhận ra là cha Đamiên, một linh mục trẻ, sinh tại nước Bỉ vào năm 1840 và từ 18 tuổi, đă ước ao làm nhà truyền giáo. Ngài có mặt ở quần đảo Hawai từ 10 năm nay, thay thế anh ruột ḿnh, một linh mục trẻ định sang truyền giáo ở đây nhưng chết trước khi thi hành ư nguyện. Đức Giám Mục chấp thuận đề nghị nhưng với ư định chỉ để cha ở đó ít tháng thôi.

Sau một thời gian, Đức Giám mục nhận được thư những người hủi, trong đó có viết: “Thưa Đức Cha, cám ơn Đức Cha v́ đă gởi đến cho chúng con một linh mục, nhưng tại sao Ngài lại muốn cất linh mục ấy đi, v́ linh mục này yêu thương chúng con nồng nàn và rất muốn ở lại với chúng con?”. Đức Giám Mục bằng ḷng chấp thuận, và trước mặt những tín hữu mới của Ngài, cha Đamiên tuyên bố: “Các con quư mến, cha sẽ ở với các con cho đến măn đời. Đời sống các con là đời sống của cha, và nếu Chúa muốn, một ngày nào đó bệnh của các con cũng là bệnh của cha. Cha sẵn sàng trở nên hủi với chúng con”. Trong cái nghĩa địa sống đó, cha Đamiên không ngừng làm phát triển đức ái.

Một ngày khi trở về lều ḿnh, cha nghe một tiếng yếu ớt phát ra từ miệng hố. Ngài nh́n xuống và thấy một người hủi nằm gọn trong đó. Ngài hỏi: “Con làm ǵ ở dưới vậy?”, người hủi trả lời: “Những người khác đuổi con, con không chống lại được, người ta nói con không cần lều để chết”. Cha Đamiên đưa người đó vào lều ḿnh và đặt người đó trên giường ḿnh.

Lần khác, Ngài đi ngang qua một hố đổ rát, thấy một người đẩy một chiếc xe cút kít, sau đó hắt một vật ǵ trên xe xuống đống rác, cha tưởng là đồ dơ, nhưng khi vật đụng đến đất, một tiếng người khẽ rên lên. Người ta đă không đợi cho anh ấy thở hơi cuối cùng để vứt vào đống rác.

Cha Đamiên, từ đó, tự đi đóng cho mỗi người một cái ḥm. Để chôn những người xấu số này, cha đă lập một nghĩa địa. Cha Đamiên lo lắng chăm sóc cho hết mọi người, băng bó mọi vết thương, đỡ nâng những người không đi nổi, khai mở nước từ xa về để cho người phong cùi tắm rửa sạch sẽ. Những túp lều cũ thối hôi đầy gián, mối, cha phá đi để cất những lều mới. Cha Đamiên quả thật là một người cha của mọi người, ngay cả đối với những người lúc đầu t́m cách trục xuất Ngài khỏi đó. Có những lúc Ngài gặp những trở ngại to lớn: chính phủ từ chối không cho Bề trên Ngài đến thăm Ngài, hay đến nơi Ngài ở. Ngài đành phải đứng dưới thuyền để xưng tội to tiếng cùng với một linh mục đứng giải tội trên tàu, v́ sợ lây bệnh, nhà nước không cho cha ấy xuống đảo.

Năm 1885, sau một lần đi thăm bệnh trở về, cha thấy chân ḿnh nhúng vào nước sôi mà không biết nóng. Đó là dấu Ngài bị lây hủi. Ngài viết cho Đức Giám Mục: “Người ta thấy có những vết đỏ trên má con, bên tai trái con, lông mày rụng, rồi đây con sẽ trở nên dị dạng. Con cảm thấy rất an b́nh và hạnh phúc hơn bao giờ ở giữa dân tộc của con”. Ngài tiếp tục làm việc bốn năm nữa với cơn bệnh ngày càng phát triển. Ngày 30.03.1889, Ngài nằm liệt giường, Ngài nói: “Hăy xem tay tôi: các vết thương đều đóng lại, vảy trở thành đen. Đó là dấu chỉ sự chết đến gần. Hăy xem mắt tôi: tôi đă giúp bao người hủi hấp hối, tôi không lầm, sự chết không c̣n xa”. Ngài chết ngày 15.04.1889.

Tấm gương anh hùng trên đây đă nhắc cho chúng ta bổn phận sống lời cam kết mà chúng ta đọc mỗi ngày: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến”. Loan truyền và tuyên xưng không phải chỉ bằng môi miệng, hay như người ta thường nói “đầu môi chót lưỡi”, nhưng bằng chính cuộc sống ḿnh. Biết hy sinh, biết chết đi như Chúa Kitô trên thập giá, như cha Đamiên tông đồ người hủi, trong niềm hy vọng sống lại với Chúa.

Không cần ǵ dốc ḷng nhiều lời, hăy cố tâm thực hiện cho bằng được những cử chỉ, dầu nhỏ mọn, để hy sinh và mang lại niềm hy vọng, được như thế, là chúng ta đạt được những ǵ Chúa muốn và những ǵ ḷng ta, những linh mục chân chính, đầy thiện chí, hằng ước mơ.

+ GM Phêrô Nguyễn Soạn          VietCatholic News (28/02/2005)

 

Căn cước tính đời Linh Mục



Từ khi Chúa Giêsu kêu gọi 12 Tông đồ và truyền chức Linh mục cho họ trong Bữa Tiệc ly trước khi chịu đau khổ vác thập gía cho tới bây giờ, đời sống Giáo Hội Chúa đă trải qua hơn hai ngàn năm trên trần gian. Trong ḍng thời gian này, Chúa vẫn hằng phát đi tiếng kêu gọi con người sống dấn thấn làm việc cho khu vườn đức tin của Chúa trong vai tṛ chức vụ Linh mục. Và số người ( trẻ ) đáp lại tiếng Chúa kêu gọi luôn luôn liên tục khi lên cao điểm, khi khủng hoảng xuống thấp trong đời sống Giáo Hội.

Những người trẻ đáp lại tiếng Chúa kêu gọi với ḷng nhiệt tâm hăng say phấn khởi. Nhưng không v́ thế mà họ không gặp khó khăn thử thách khi chọn muốn sống dấn thân theo tiếng ơn kêu gọi làm linh mục. Đến khi họ đạt đến đích điểm trở thành Linh mục, đời sống cũng không đơn gỉản đi phần nào. Trái lại có phần phức tạp hơn, nhiều thách đố khó khăn hơn. V́ linh mục phải chiến đấu với chính bản thân ḿnh, với những dằng co về bản tính con người, với khung cảnh văn hóa đời sống xă hội sao cho nhân bản t́nh người, sao cho xứng hợp trung thành với lời đoan hứa ngày chịu chức Linh Mục: Adsum! – Này con đây, xin sẵn sàng !

Và trong thinh lặng khi suy nghĩ về chức Linh mục, họ cũng không khỏi gặp nhiều thắc mắc, bỡ ngỡ, đôi khi lúng túng không biết rơ thế nào là bản chất đích thực con người Linh mục.

1.Tấm thẻ căn cước

Ngày nay mọi người ở mọi đất nước, ai cũng có thẻ căn cước, thẻ chứng minh nhân dân. Không có tấm thẻ này, bị kể là người bất hợp pháp, không có quyền công dân trong đất nước đó. Trong các hăng xưởng cũng thế, không có thẻ này không thể vào trong hăng được. C̣n Linh mục, sau khi trở thành Linh mục cũng nhận được tấm thẻ căn cước Linh mục do ṭa Gíam Mục cấp chứng nhận.

Phải chăng Linh mục cũng cần thẻ căn cước chứng minh là Linh mục? Trong trường hợp hồ nghi hay thanh tra kiểm soát, tấm thẻ này là giấy tờ chứng minh cần thiết.

Như vậy, phải chăng tấm thẻ này chứng minh tất cả: Ông là Linh mục ? Không hẳn là như thế. V́ con người không thể đơn giản chứng minh bằng một tờ giấy chứng thư. Bản chất con người c̣n sâu xa, lớn hơn, có gía trị cao qúy hơn tấm thẻ căn cước nhiều.

Vậy đâu là căn cước tính đời linh mục?

2. Tôi là ai?

Đây là thắc mắc có lẽ từ khi Chúa Giêsu lập chức Linh mục, và người ta sẽ c̣n thắc mắc măi về vấn đề này trong ḍng thời gian. Thắc mắc này cũng có thể phản ảnh cơn khủng hoảng về chức Linh mục hiện nay bên xă hội phương tây. Nhưng thắc mắc này cũng là nhu cầu nội tâm của con người, khi họ suy nghĩ hồi tâm về cuộc đời linh mục của ḿnh. Thắc này theo tôi nghĩ là câu hỏi: Tôi là ai? Tôi là ǵ?

Câu trả lời cho thắc mắc này mang nhiều sắc thái khác nhau. Nếu theo khả năng sức lực, câu trả lời sẽ bao hàm những ǵ ta có cùng có thể làm được, như khả năng ăn nói, viết lách, giảng dạy, điều khiển tổ chức, có sức hấp dẫn thu hút người khác…

Nếu theo căn cứ bản chất con người, câu trả lời sẽ không căn cứ trên những ǵ có ( habeo). Tôi không thể trả lời tôi là linh mục, v́ tôi có chức Linh mục, đồng nghĩa với những năng quyền Chúa và Giáo Hội ban cho tôi! Câu trả lời như thế giáo điều và qúa đơn giản. Nhưng phải căn cứ trên một nền tảng khác. Nền tảng đó là bản chất (esse) con người của ta.

Làm thế nào tôi nhận ra bản chất con người của tôi? Câu hỏi này có liên quan đến nền tảng đức tin. Và như thế không thể t́m được câu trả lời từ chính tôi. V́ đời sống tôi không bắt nguồn từ tôi. Nhưng nguồn đó ở trên tôi, tận trong tâm hồn tôi, và là cùng tận đời tôi, là Alpha và Omega.

Nguồn đó là nhân vị đời tôi. Đă là nhân vị, tôi không thể nào tự ḿnh qua gắng sức, qua tài khéo léo thành tích cá nhân hay bằng cấp sản xuất làm ra được.

Nhân vị đời tôi, tôi nhận được từ Nguồi đó. Và ngoài Nguồn đó, không ai là con người như tôi, có thể cho tôi điều đó được.

3. Ego eimi – chính là tôi!

Trước ṭa xét xử, khi bị chất vấn về căn cước tính con người của Chúa Giêsu: Ông có phải là Giêsu thành Nazareth, Ông có phải là Đấng Cứu thế, con Thiên Chúa không? Chúa Giêsu luôn luôn khẳng định: Ego eimi – Phải chính là tôi đây! (Mc 14,61-62; Ga 4,25-26; 18,5-8).

Người bị mù ḷa từ khi lọt ḷng mẹ vẫn ngồi ăn xin trứơc cửa đền thờ, sau khi được Chúa Giêsu chữa cho lành bệnh sáng mắt trở lại - nhân vị con người được trả lại – đă nhất mực trả lời cho những người nghi ngờ căn cước tính của ḿnh: Ego eimi - Phải chính là tôi đây!, chứ không người nào khác giống tôi đâu! …Tôi biết ơn và tuyên xưng niềm tin vào Ông Giêsu, là Thiên Chúa. Chính Ông ta đă chữa cho tôi lành bệnh sáng mắt trở lại (Ga 9,1-40).

Ông Phero đă đánh mất căn cước tính con người của ḿnh khi Ông chối bỏ không thuộc về Chúa Giêsu, khi bị một người canh cổng chất vấn: ouk eimi – Không tôi không thuộc về Ông ta! Tôi không biết Ông ta là ai!

Chối bỏ như thế, Ông đă đánh mất mối liên hệ với Chúa Giêsu, Thầy của ḿnh. Và v́ thế căn cước tính của Ông cũng bị mất. Nhưng sau khi mối liên hệ Thầy tṛ được nối lại trở lại qua ánh mắt nh́n của Thầy Giêsu, cùng ḷng ăn năn hối lỗi của ḿnh, Ông đă t́m lại được điều Ông đă đánh mất: căn cước tính của ḿnh. ( Lc 22,54-62).

Như thế, có thể nói, căn cước tính con người của linh mục, chính là người tin theo Chúa Giêsu cho dù những yếu đuối tội lỗi, khiếm khuyết thua kém…trong mọi hoàn cảnh vẫn một mực không chối bỏ Ngài.

Cho dù trí tuệ không hiểu biết ǵ nhiều về Ngài. Nhưng vẫn một ḷng trung thành với Ngá.

Cho dù gặp khó khăn cô đơn, bị thử thách hiểu lầm trong đời sống hay đức tin bị lung lay hồ nghi về Thầy Giêsu của ḿnh, vẫn luôn tin rằng Thầy Giêsu là nguồn nhân vị đời ta, và Ngài không bỏ rơi ta, như trường hợp người mù ḷa được chữa lành và Ông Phero.

Thần học gia Tin Lành D. Bonhoeffer trong ngục tù thời Đức quốc xă, khi suy nghĩ về căn cước tính con người của ḿnh, đă thốt tâm t́nh thành lời cầu nguyện: „Wer ich auch bin, Du kennst mich, Dein bin ich, O Gott - Lạy Chúa, là cha đời con, Cha biết con là ai, dẫu thế nào con vẫn thuộc về Cha!“

4. Amor ergo sum!

Đó là chiều hướng thượng giữa Linh mục với Chúa. Nhưng linh mục c̣n đang sống trên mặt địa cầu với mọi người, họ cũng là con Chúa như ông. Vậy thế đâu là căn cước tính con người linh mục, một thụ tạo của Thiên Chúa có thân xác và trí khôn?

Câu định nghĩa thời danh Amor ergo sum! Tôi được yêu, v́ thế tôi có mặt! có thể giúp nhận chân ra căn cước tính con người của linh mục trong đời sống xă hội con người.

Được Chúa yêu thương kính trọng trong cộng đồng Giáo Hội như bao anh chị em khác qua Bí tích Rửa tội, linh mục cùng liên kết với mọi người tín hữu Chúa Kitô trong đức tin, qua ân đức của Thiên Chúa. Linh mục luôn măi là người đă nhận lănh làn nước Bí tích rửa tội, và tin vào Thiên Chúa như các người tín hữu Chúa Kitô khác đă cùng lănh nhận làn nước bí tích rửa tội. Đó là điều quan trọng hơn hết và là chức Linh mục căn bản.

Nếu niềm tin này, chức Linh mục này không bén rễ sâu, không phát triển trong tâm hồn, thiết tưởng những ǵ gọi là việc làm của người có chức linh mục trong Giáo Hội cơ chế hữu h́nh, sẽ thiếu nền tảng và sai lạc hướng.

5. Niềm hy vọng

Công đồng Vatican thứ hai đă định nghĩa căn cước tính cho việc mục vụ của Giáo Hội Chúa Giêsu ở trần gian: „ Vui mừng và hy vọng, buồn sầu và lo âu của con người ngày hôm nay, nhất là của người nghèo khổ, bị ruồng bỏ quên lăng, cũng là niềm vui, hy vọng nỗi lo buồn của Môn đệ Chúa Kitô. Không thể nói là nhân bản, khi những ưu tư này không bén rễ tận trong tâm hồn, và không gây được âm hưởng nơi tâm hồn ngựi đối diện. Cộng đồng dân Chúa được thành h́nh do con người cùng liên kết với nhau trong đức tin vào Chúa Giêsu Kitô, vào Chúa Thánh Thần và họ đang cùng nhau trên đường về quê hương trên trời nơi Thiên Chúa Cha ngự trị…“ ( Constitutio Pastoralis de Ecclesia in mundo huius temporis – prooemium Nr.1)

Cuộc sống linh mục lẽ tất nhiên phải hướng lên trời cao, nhưng không được quên ḿnh đang c̣n sống trên đường lữ hành với mọi người. Trước mặt Chúa, linh mục cũng là con số không với hai bàn tay trắng, và c̣n đang sống sinh hoạt trong khung cảnh văn hóa, phong tục tập quán của con người thời đại.

Cuộc sống mục vụ mà thiếu chiều kích nhân bản t́nh người, thiết tưởng không những không làm nhân chứng loan truyền Tin Mừng của Chúa có hiệu qủa tốt cho con người, mà c̣n gây ra những hiểu lầm gây thiệt hại nữa.

Đời sống linh mục mà chỉ dựa trên cảm tính, như được kính trọng, được xưng hô là người quan trọng có quyền hành, là người nghĩ rằng một ḿnh làm được hết mọi chuyện, và cho đó là căn bản yếu tính của linh mục, thiết tưởng không mang lại lợi ích tinh thần giúp xây dựng đức tin ǵ cho con người.

Có câu chuyện ngụ ngôn kể lại: “ Vào một ngày trong tháng năm, trên bầu trời trong xanh yên gió, chim chóc tung cánh bay lượn ca hót líu lo. Th́nh ĺnh xưất hiện một con chim đại bàng bay chao đi chao lại giữa không trung. Chú chim đại bàng lật trở ḿnh nằm ngửa giơ hai chân lên trời, hai cánh dương ra để giữ thăng bằng giữa khoảng không gian lơ lửng…

Chú c̣ bay ngang thấy vậy, lấy làm lạ dừng lại ngắm nh́n và lên tiếng nói: Này lăo tiền bối! Ngài đang giở thế vơ công ǵ vậy kỳ lạ qúa. Tôi chưa thấy sự này bao giờ. Lăo tiền bối c̣n sống hay đă chết mà sao nằm ngữa lơ lửng giữa trời như vậy?

Chú chim đại bàng mắt lim dim trong tư thế nằm ngửa ngó lên trời cao lên tiếng đáp lại: Ta đâu có chết mà nhà người phải lo, phải hỏi như thế!

Chú c̣ hỏi lại: Thế sao lăo tiền bối lại nằm ngửa giơ chân cẳng vó ngựa lên trời vậy?

Chú chim đại bàng huênh hoang đối lại: Nhà người không nh́n thấy ta đang làm ǵ đó sao. Ta đang trong tư thế giương hai chân ra chống đỡ bầu trời. V́ nếu ta không làm như thế, bầu trời sẽ xập xuống và chúng ta cùng mọi loài sẽ chết toi!

Vừa nói xong những lời tự cao tự đại, bỗng dưng cơn dông gío to từ đàng tây kéo tới. Cây cối uốn ḿnh theo chiều gió nghiêng ngả tứ phía bật gốc rễ, cành lá bay rơi rụng khắp nơi… Thế là chú đại bằng hoảng hốt co cụp đôi chân lại, lật xấp trở ḿnh theo tư thế b́nh thường, và vụt đôi cánh bay biến mất đáp xuống lùm bụi cây bụi rậm gần đó để ẩn thân…

Chú đại bàng bay đi mất dạng không c̣n ai chống đỡ bầu trời như chú nghĩ tưởng. Nhưng bầu trời vẫn đứng vững bao che vạn vật từ thuở tạo thiên lập địa, dù có phải trải qua bao cơn giông băo gió lớn…”

Nếu Tin Mừng của Chúa là niềm hy vọng cho con ngựi, th́ linh mục người loan báo tin mừng đó phải là chứng nhân sống niềm vui, niềm hy vọng cho người khác.

***

Linh mục trong Giáo Hội Công giáo Roma theo nghi lễ Latinh buộc giữ đời sống theo luật độc thân không lập gia đ́nh. Xưa nay hầu như luôn có tranh căi, phải chăng luật độc thân linh mục cũng thuộc về ăn cước tính của linh mục, nên linh mục phải sống như thế?

Điều này không là như thế. Luật linh mục sống độc thân đă có một truyền thống lâu dài trong Giáo Hội. Luật này do Giáo Hội Công Giáo đặt ra ngay từ thời thế kỷ thứ tư và từ thế kỷ thứ 11. dưới thời các Đức giáo hoàng Leo thứ 9, đức giáo hoàng Victor thứ hai và đức giáo hoàng Gregor thứ bảy đă luôn khẳng định lại nhiều lần, cùng ra những chỉ thị chặt chẽ về luật buộc này với tất cả mọi giáo sỹ trong Giáo Hội Công Giáo Roma.

Luật linh mục sống giữ độc thân, tuy không là bản chất của chức Linh mục, nhưng vừa là kỷ luật của Giáo Hội, vừa là nếp sống tu đức cùng mục vụ đời sống Linh mục.

Nếp sống nào cũng cần phải có kỷ luật, cần phải có hướng sống dấn thân hy sinh. Bậc sống Linh mục rao giảng làm nhân chứng cho nước trời, cùng làm việc mục vụ hướng dẫn tinh thần đạo gíao ban các phép Bí tích, cần nếp sống tu đức hy sinh ngay từ nơi bản thân của linh mục là điều cần thiết. Điều này mang lại hiệu qủa thiêng liêng cho chính bản thân linh mục và uy tín với người tín hữu trong Giáo Hội.

Sống độc thân là một từ bỏ hy sinh trong đời sống của một con người. Nhưng Linh mục chấp nhận và sống trung thành với kỷ luật độc thân đời linh mục là góp phần ǵn giữ căn cước tính đời linh mục, cùng nói lên t́nh yêu mến gắn bó với Ơn kêu Gọi của Chúa cùng Giáo Hội của người ở trần gian.

Điều này thuộc lănh vực tinh thần thiêng liêng như lạ thường khó hiểu với tâm trí con người chúng ta. Nhưng David Ben Gurion có suy tư: « Người nào không tin vào điều lạ thường, họ không biết đến thực tại. »

Năm Linh Mục 2009-2010

LM Đaminh Nguyễn Ngọc Long

 

 

Lời kinh đêm Chủ nhật của một linh mục

 

Notable and Quotable—Michel Quoist—

The Priest: A Prayer on a Sunday evening

 

Posted by Kendall Harmon

 

"People ask a great deal of their priest, and they should. But they should also understand that it is not easy to be a priest. He has given himself in all the ardor or youth, yet he still remains a man, and every day the man in him tries to take back what he has surrendered. It is a continual struggle to remain completely at the service of Christ and of others.

A priest needs no praise or embarassing gifts; what he needs is that those committed to his charge should, by loving their fellows more and more, prove to him that he has not given his life in vain. And as he remains a man, he may need, once in a while, a delicate gesture of disinterested friendship... some Sunday night when he is alone.


*

"Come with me, and I will make you fishers of men." (Mark 1,17).

"You did not choose me: I chose you. I appointed you to go on and bear fruit that shall last..." (John 15, 16)

"Forgetting what is behind me, and reaching out for that which lies ahead, I press towards the goal to win the prize which is God's call to the life above, in Christ Jesus." (Philippians 3, 13-14).


*
Tonight, Lord, I am alone.
Little by little the sounds died down in the church.
The people went away,
And I came home,
Alone.


I passed people who were returning from a walk.
I went by the movie house that was disgorging its crowd.
I skirted cafe terraces where tired strollers were trying to prolong the pleasure
of a Sunday holiday.
I bumped into youngsters playing on the sidewalk,
Youngsters, Lord,
Other people's youngsters, who will never be my own.

Here I am, Lord,
Alone.
The silence troubles me,
The solitude oppresses me.

. . . . . . . . . .

Lord, I'm thirty-five years old,
A body made like others,
Arms ready for work,
A heart meant for love,
But I've given you all.
It's true, of course, that you needed it.
I've given you all, but it's hard, Lord.

It's hard to give one's body; it would like to give itself to others.
It's hard to love everyone and to claim no one.
It's hard to shake a hand and not want to retain it.
It's hard to inspire affection, only to give it to you.
It's hard to be nothing to oneself in order to be everything to others.


It's hard to be like others, among others, and to be other.
It's hard always to give without trying to receive.
It's hard to seek out others and to be, oneself, unsought.
It's hard to suffer from the sins of others, and yet be obliged to hear and bear them.
It's hard to be told secrets, and be unable to share them.
It's hard to carry others and never, even for a moment, be carried.


It's hard to sustain the feeble and never be able to lean on one who is strong.
It's hard to be alone,
Alone before everyone,
Alone before the world,
Alone before suffering,
death,
sin.

*
Son, you are not alone,
I am with you;
I am you.
For I needed another human instrument to continue my Incarnation and my Redemption.
Out of all eternity, I chose you,
I need you.

I need your hands to continue to bless,
I need your lips to continue to speak,
I need your body to continue to suffer,
I need your hearts to continue to love,
I need you to continue to save.
Stay with me, son.


*
Here I am, Lord;
Here is my body,
Here is my heart,
Here is my soul.
Grant that I may be big enough to reach the world,
Strong enugh to carry it,
Pure enough to embrace it without wanting to keep it.
Grant that I may be a meeting-place, but a temporary one,
A road that does not end in itself, because everything to be gathered there, everyting human, leads toward you.

Lord, tonight, while all is still and I feel sharply the sting of solitude,
While men devour my soul and I feel incapable of satisfying their hunger,
While the whole world presses on my shoulders with all its weight of misery and sin,
I repeat to you my "yes" -- not in a burst of laughter, but slowly, clearly, humbly,


Alone, Lord, before you,
In the peace of the evening.


--Michel Quoist, Prayers (English translation of the 1963 French original, Avon Books, 1975, pp. 64-68) and used by yours truly at last weekend's Diocesan Daughters of the King retreat

 

 

Lời kinh đêm Chủ nhật của một linh mục

 

 

 

 

Người ta thường đ̣i hỏi nhiều nơi vị linh mục của họ, và đó là điều nên làm. Nhưng họ cũng nên hiểu rằng chẳng dễ ǵ khi làm một linh mục. Tuy đă cống hiến hết cả niềm hăng say của tuổi trẻ, thế nhưng ông vẫn c̣n là một con người, và mỗi ngày con người trong vị đó cố gắng lấy lại những ǵ ông ta đă từ bỏ. Đó là một cuộc đấu tranh liên tục để duy tŕ cho ḿnh hoàn toàn phục vụ Chúa Kitô và những người khác.

Một linh mục chẳng cần lời khen ngợi hoặc những quà tặng làm họ ngại ngần, điều vị đó cần là những người được trao phó cho ông phục vụ, nên chứng tỏ cho ông thấy rằng ông đă không hy sinh cuộc đời một cách vô ích, bằng t́nh yêu thương mỗi ngày một nhiều hơn những bằng hữu đồng đạo. Và khi ông vẫn c̣n là con người, lâu lâu ông cũng cần đến một cử chỉ tế nhị của t́nh bằng hữu vị tha…vào một đêm Chủ nhật nào đó khi ông thui thủi cô đơn.

****
"Các anh hăy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá." (Marcô 1:17)

“Không phải anh em đă chọn Thầy, nhưng chính Thầy đă chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại…” (Gioan 15:16)
“Tôi chỉ chú ư đến một điều, là quên đi chặng đường đă qua, để lao ḿnh về phía trước.Tôi chạy thẳng tới đích, để chiếm được phần thưởng từ trời cao Thiên Chúa dành cho kẻ được Người kêu gọi trong Đức Ki-tô Giê-su.” (Philiphê 3:13-14)


****


Chúa ơi, đêm nay con thui thủi cô đơn
Âm thanh từng chút một lịm tắt cuối phía giáo đường,
Người ta bước dần xa
Và con đi về nhà,
Cô độc.
*

Bước con đi qua những người đang tản bộ trở về.
Bước con đi ngang qua rạp chiếu bóng đang nhả ra cả một đám đông.
Bước con đi ngay cạnh hàng hiên bán cà phê, nơi những người dạo chơi mỏi mệt đang cố kéo dài thêm niềm vui của một ngày Chủ nhật được nghỉ ngơi.
Con đụng phải bày trẻ thơ đang chơi đùa trên vỉa hè đường phố,
Những đứa trẻ thơ, lạy Chúa,
Con của những người khác, sẽ chẳng bao giờ là của con.
Chúa ơi, này con đây
Cô đơn.
Niềm im lặng làm con bối rối
Nỗi cô độc hành hạ thân con.

….

Lạy Chúa, con 35 tuổi
Một thân xác giống như người khác,
Đôi cánh tay sẵn sàng làm việc,
Một trái tim dành để yêu thương,
Nhưng tất cả con đă hiến dâng cho Chúa.
Đúng thật, dĩ nhiên là Chúa cần đến nó,
Con đă cho Chúa hết cả, nhưng mà thật khó Chúa ơi,
Thật khó khi cho đi tấm thân này; nó muốn trao nó cho người khác.
Thật khó khi yêu thương mọi người mà không đ̣i hỏi được ai.
Thật khó khi nắm bắt một bàn tay mà không muốn giữ lại làm của riêng ḿnh.
Thật khó khi gợi hứng yêu thương, chỉ để hiến dâng yêu thương lên cho Chúa.
Thật khó khi trở thành chẳng là ǵ hết cho chính bản thân ḿnh để trở thành hết mọi sự cho những người khác.
Thật khó khi giống như người khác, ở giữa người khác, trở thành người khác.
Thật khó khi luôn luôn cho đi mà không cố nhận lại.
Thật khó khi kiếm t́m người khác, c̣n chính ḿnh th́ lại quên đi.
Thật khó khi khổ đau v́ tội lỗi người khác, mà lại bó buộc phải nghe phải gánh lấy những tội lỗi này.
Thật khó khi được nghe kể những chuyện kín nhiệm mà lại không được chia sẻ cho ai.
Thật khó khi cưu mang những người khác mà không bao giờ, dù trong phút chốc, mong được cưu mang.

Thật khó khi nâng đỡ những người yếu đuối mà không bao giờ có thể tựa vào kẻ mạnh.
Thật khó khi sống cô đơn,
Cô đơn trước mọi người,
Cô đơn trước thế giới,
Cô đơn trước nỗi khổ đau,
cái chết,
và tội lỗi.

****
Này con, con chẳng cô độc đâu,
Cha ở với con;
Cha là con đó.
V́ Cha cần một dụng cụ khác là con người để tiếp tục cuộc Nhập thể và Cứu độ của Cha.


Từ thuở vĩnh hằng, Cha đă chọn con,
Cha cần con đó
.

Cha cần đôi bàn tay con để tiếp tục chúc phúc,
Cha cần đôi môi con để tiếp tục nói,
Cha cần thân xác con để tiếp tục khổ đau,
Cha cần trái tim con để tiếp tục yêu thương,
Cha cần con để tiếp tục cứu độ.
Này con, hăy ở cùng Cha.

****
Này con đây, lạy Chúa;
Này đây thân xác của con,
Này đây trái tim con,
Này đây linh hồn con.
Xin cho con cao lớn đủ để vươn cùng thế giới,


Mạnh mẽ đủ để mang được cả trần gian,
Thanh khiết đủ để ẵm bồng thế giới mà không muốn giữ lấy cho ḿnh.
Xin cho con trở thành nơi gặp gỡ, nhưng chỉ tạm thời,
Thành một con đường nhưng không có ngơ cụt, bởi v́ mọi sự đều quy tụ nơi đây, mọi sự thuộc về con người đều dẫn đưa tới Chúa.

Lạy Chúa, đêm nay, khi vạn vật đều lặng lẽ và con cảm thấy nỗi niềm cô độc như một ng̣i đốt sắc bén,
Khi người ta nuốt lấy hồn con mà con cảm thấy không thể thỏa măn nỗi đói khát của chúng,
Khi cả thế giới đè nặng trên hai vai con bằng hết cả sức nặng của khốn khổ và tội lỗi,
Con lặp lại với Chúa tiếng nói “xin vâng” của con – không phải trong tràng cười nở rộ, nhưng chậm răi, rơ ràng, khiêm hạ,
Cô đơn, Chúa ơi, trước mặt Chúa,
Trong an b́nh của buổi chiều hôm.


Nguồn: Prayers/Michel Quoist

Phụng Nghi

 

 

 

XE LĂN VÀ HY LỄ BAN CHIỀU

 

Nắng chiều gần tắt, nhưng vẫn c̣n đủ dọi sáng trong căn nhà nguyện của các linh mục hưu dưỡng tại thành phố Saint Louis chiều nay. Từng giọt nắng xuyên qua song cửa, đọng lại trên từng đôi vai gầy g̣ của những cuộc đời cũng đă xế chiều. Một thời, họ đă từng là giáo sư , là mục tử , là nhà truyền giáo với những bước chân trần không mỏi mệt . Hôm nay, họ như những giọt nắng chiều bắt đầu xuôi bóng. Vậy mà trong cái tàn lụi của cuộc đời ấy, họ đă để lại trong tôi một cảm xúc nội tâm sâu xa.

Xúc động v́ thấy trên 30 chiếc xe lăn, 30 cuộc đời bệnh tật yếu ớt ấỵ dâng thánh Lễ Đồng Tế tạ ơn. Họ dâng lễ tạ ơn trong nắng chiều nhạt nhoà. Từng chiếc áo lễ đă bạc màu như chính cuộc đời của các Ngài. Những mái tóc trắng bạc nhuốm màu gió sương. Từng cánh tay run rẫy vẫn khát khao dâng lễ hiến tế . Chẳng vị nào có thể cất lên nổi một lời kinh cho trọn vẹn v́ hụt hơi, sức cạn. Riêng vị chủ tế, sức khỏe khá hơn một tư, cất lên lời kinh tiền tụng như lời tạ ơn thay cho những những anh em tật nguyền.

Họ dâng lễ tạ ơn khi đời không c̣n ǵ để dâng. Họ dâng lễ tạ ơn khi đôi tay không c̣n sức để nâng nổi một chén Thánh. Mấp máy đôi môi trong mỏi mệt yếu đuối. Buông rũ đôi tay trên vành xe lăn định mệnh. Một Thánh Lễ Ban Chiều!

Nghi lễ truyền phép làm tôi xúc động nhiêù. Từng hàng tay run rẩy từ dăy xe lăn cũng muốn nâng lên để hiệp thông. Niềm hiệp thông trong nỗi đau tật nguyền . Trong già nua ṃn mỏi. Vậy mà trên từng nét mặt già nua bệnh tật yếu ớt, trong từng ánh mắt nhạt nḥa ấy vẫn phản chiếu một tâm t́nh tri ân sâu thẳm. Tôi thầm nói với chính ḿnh : “C̣n ǵ để tạ ơn nữa nhỉ, khi cuộc đời đâu c̣n ǵ để đón nhận. C̣n ǵ để tạ ơn khi cuộc đời đang tàn lụi tiêu hao.” Tôi Không hiểu hết, nhưng chính các ngài đă hiểu.V́ thế mới dâng lời tạ ơn.

Mới cách đây mấy hôm, tôi đi tham dự thánh lễ mở tay của một Linh mục trẻ. Niềm hân hoan dạt dào. Ca đoàn rộn vang tiếng hát . Rước Quay phim . Chụp ảnh . Tấp nập bước chân. Người Linh mục trẻ giang rộng đôi tay trên bàn Thánh trong nét mặt hân hoan. Chấp tay khấn nguyện và dâng lời tạ ơn thay cho muôn dân. Hàng ngàn con tim tham dự cùng một nhịp rung, như ôm chầm người Linh mục trẻ trong ḷng yêu thương của Giáo hội. Lễ tan, người người vây quanh. Chúc mừng . Hân hoan. Có cả nước mắt hạnh phúc nữa. Màu áo phục sinh tung bay trong nắng b́nh minh. Mây xanh trong vắt trên cao cũng như muốn cuốn hút người Linh mục về phía cuối Trời. Nhiều người trẻ hiện diện nơi đó cũng thầm ước mong ngày nào có được phút giây ấy. Phút giây của thần thoại. Phút giây của Thiên đường . Rồi hôm nay, tôi đến tham dự Thánh lễ ban chiều của những Linh mục xế chiều trên xe lăn. Không rước xách. Không tiếng hát. Không đưa rước. Không người thân . Không c̣n lời chúc mừng . Nhà nguyện vắng. Chỉ nghe rơ cọc cạch từng tiếng xe lăn tiến vào. Nhiều hàng ghế trống, v́ tất cả ngồi trên xe lăn. Một vài người phụ giúp đẩy xe ngồi khuất cuối lối. Trên bàn thờ, ánh nến cháy hững hờ. Dường như nó cũng nhạt nhoà theo nắng. Những bông hoa cũng âm thầm rủ cánh. Mỏi mệt. Có ai đó đă để chưng cả tuần nay. Không gian tĩnh lặng một màu chiều .

Tôi th́ thầm với Chúa: “Chúa ơi, đời Linh mục cuối cùng như vậy hay sao? Con cứ tưởng nó măi rực rỡ như ngày lễ mở tay mấy hôm trước chứ ”. Không có tiếng trả lời . Chỉ có sự lặng im của thập giá phía cuối bàn thờ. Thấp thoáng một bóng h́nh treo lơ lửng trong chiều tím. Dường như đó là câu trả lời cho tôi! Tôi không dám hỏi tiếp, chỉ cúi đầu thinh lặng nh́n bóng thập tự và nh́n từng ḍng đời đang trôi qua. Trôi qua nhưng sẽ không bao giờ tàn lụi. Tất cả như ḍng sông đang trôi đi, đi về với biển cả, về với đại dương mênh mông. Họ như ánh hoàng hôn đang lịm tắt để chờ đợi một b́nh minh. Vẫn biết rằng giọt nắng chiều là giọt nắng hiu hắt, Áng mây chiều là áng mây buồn rũ. Cuộc đời về chiều cũng hiu hắt buồn rủ, nhưng nó có nét ǵ nhiệm mầu quá đỗi. Hứa hẹn một mùa phục sinh nơi cuối trời. Bên ngoài vẫn là mùa Đông. Mọi thứ xơ xác. Tuyết. Lạnh. Cây cối c̣n lại nắm xương gầy. Có chút nắng nhưng chẳng đủ sưởi ấm. Nó chỉ dọi sáng mong dẫn lối đi và chờ đợi xuân về . Ngoài trời cây rũ, lá rơi. Trong nhà cũng có những mảnh đời đang rụng dần. Họ đă sống đến tận cùng ơn gọi của chính ḿnh . Biết chiếc lá đời ḿnh đang rụng nhưng vẫn cất lời tạ ơn. Tạ ơn v́ sinh ra một đời để được sống đời đời. Tạ ơn v́ hy vọng một mùa Xuân sẽ dọi sáng sau mùa Đông lạnh. Nắm xương gầy của cây cối c̣n hy vọng phút đâm chồi nảy lộc lúc Xuân sang. Các Linh mục xe lăn hôm nay cũng đang mong chờ một Mùa Xuân vĩnh cửu. V́ thế họ cất lời tạ ơn. Tạ ơn cho họ. Tạ ơn cho đời và tạ ơn thay cho tôi. Tôi thường so đo khi dâng lời cảm tạ. C̣n các Ngài lại dâng lời cảm tạ không chút so đo. Họ là những tia nắng chiều nhưng vẫn c̣n dọi sáng để soi dẫn ḷng tri ân. Như muốn nói rằng, đời là một chuỗi ngày tri ân liên lỉ.

Không hiểu thánh lễ của các Ngài dâng hôm nay có giống như tâm t́nh của thánh lễ mở tay đầu đời hay không ? Ngày mở tay tràn ngập vui sướng, v́ cảm nghiệm t́nh Chúa quá bao la. Ngày mở tay hạnh phúc, v́ giang tay đón nhận ơn trời . Hôm nay, những đôi tay đó không c̣n sức để giang rộng, nhưng trong tim th́ vẫn một ḷng cảm tạ mênh mông. Thánh lễ nào mà chẳng mang ư nghĩa tạ ơn . Nhưng thánh lễ tạ ơn ban chiều với những cuộc đời xế chiều trên những chiếc xe lăn hôm nay mang một chiều kích hiến tế trọn vẹn quá. Dâng cả nỗi đau. Dâng cả cuộc đời tàn. Đôi tay run rẩy làm nên lễ dâng. Không cần của lễ. Chúa cũng chẳng cần hy lễ . Ngài cần “một tấm ḷng tan nát khiêm cung”. Bao lâu c̣n hơn thở, bấy lâu c̣n dâng lời cảm tạ. Bao lâu c̣n ư thức ḿnh đang hiện hữu, lúc ấy vẫn c̣n muốn nói lời tri ân. Nắm đôi tay yếu ớt của một Linh mục tê liệt trên chiếc xe lăn tôi hỏi :

- Cha có mệt lắm không?

- Mệt. Nhưng tạ ơn Chúa v́ đa "gần xong đời lữ hành rồi.

Chao ôi ! vẫn mênh mông một màu hy vọng. Không than thở. Không trách móc, v́ thấy lấp ló tia sáng của màu nắng vĩnh cửu . Hạt lúa ḿ của kiếp đời đang mục nát để trổ sinh mùa lúa trường sinh. Tôi nh́n các Ngài cô đơn trong nỗi đau tật nguyền. C̣n các Ngài lại muốn chia sẽ một niềm vui có Chúa. Tâm tư thật khác nhau. Người đang lảnh nhận dạt dào như tôi th́ quên lời tạ ơn. Kẻ đang mất mát héo tàn th́ lại dâng lời chúc tụng. Đôi tay run rẩy mà lại cảm thấy dư tràn, c̣n đôi taytay mạnh khỏe như tôi lại cảm thấy thiếu thốn, mong thêm. Có phải bàn tay nhiều rănh, hay v́ ḷng nhiều ngăn? Tôi tự vấn ḷng ḿnh. Tôi đang đi t́m bằng cấp, vinh dự, đi t́m một chỗ đứng trong đời. Các Ngài đang trả lại cho đời vinh dự bằng cấp và chỗ đứng, để đi vào kết hiệp thâm sâu. Thầm nói với mọi người “Chúa là phần gia nghiệp mà thôi”. Bao lâu chưa cảm thấy Chúa là gia nghiệp, bấy lâu ḷng vẫn cảm thấy đói. Miệng vẫn cảm thấy khô và khát. Đời tôi hôm nay dường như cũng đang thiếu vắng một tâm t́nh tạ ơn sâu thẳm như thế. V́ ḷng chưa cảm thấy no, hồn chưa cảm thấy đủ. Bao giờ cho đuợc no đủ vẫn là nỗi giằng co trong ḷng . Ḷng đang mong thêm nên ít khi tri ân những ǵ ḿnh có. Không cảm kích những ǵ đang có, nên ḷng cứ phập phồng xôn xao. Sóng gian tham vẫn cuồn cuộn, nên không t́m đuợc nguồn b́nh yên cơi ḷng. Đôi khi nhận một món quà nhỏ ai gởi, ḷng sung sướng nâng niu. C̣n món quà cuộc sống lớn lao như đại dương mênh mông, tôi lại thường quên dâng lời cảm tạ.

Rồi từng chiều khi nắng tắt bên đồi. Tiếng xe lăn cọc cạch và âm vang Thánh lễ Tạ ơn của các Linh mục tật nguyền trên xe lăn hôm ấy lại văng vẳng bên tai. Nhắc nhở một lời tạ ơn cuối chiều. Nắng tan dần và ḷng cũng chùụng xuống như sương tan trong đêm. Tan để hiểu được nguồn nước ân sủng. Tan để biết thân phận được tạo nên là để trở về với đại dương mênh mông.

Rồi trong chiều nhạt nắng hôm nay tôi cũng dâng lời th́ thầm:

Chúa ơi, nhớ lại hàng xe lăn tiến vào nhà nguyện hôm nao,

con nghe ḷng ḿnh xôn xao và bâng khuâng quá.

Bâng khuâng v́ cảm kích những cuộc đời Linh mục tàn tật, già nua

 nhưng vẫn sống đến tận cùng của đời hiến dâng.

Vẫn chan chứa trong tim một tâm t́nh tạ ơn sâu thẳm.

Vẫn tràn trào hy vọng cho dẫu bao rạn vở mong manh của kiếp nhân sinh.

Có những bước chân đẹp sẵn sàng lên đường,

th́ cũng có những h́nh ảnh đẹp âm thầm hiến tế mỗi chiều.

 Họ là mẫu gương cho ḷng tri ân của con hôm nay.

Xin cho mỗi chiều khi nắng tắt,

 th́ lời tạ ơn của con cũng được dâng cao để tan dần theo nắng.

Xin cho Thánh lễ tạ ơn ban chiều con đến dự hôm nao,

cũng sẽ là từng chiều tạ ơn của đời con hôm nay. Amen.

Nguyễn Thảo Nam, S.J.