NĂM LINH MỤC
Linh mục, Người là ai?
Ví
như Tôn Tẩn đă nói răng: “Tri kỹ tri bỉ, bách
chiến bách thắng” (Biết người biết ta,
trăm trận trăm thắng), th́ linh mục chúng ta, trong
cuộc chiến đấu vật lộn với
đời, chúng ta cần phải biết chính ḿnh.
Hôm
nay, xin nói về vấn đề: “Linh mục,
người là ai?”
Để
đào tạo linh mục, Giáo Hội phải tốn bao
nhiêu công sức và thời gian. Chúng ta là người trong
cuộc, nhiều khi gần quá hóa quen, nên ít khi đặt
lại vấn đề, ít khi xét lại để
thấy căn tính của ḿnh. Hôm nay trong những ngày pḥng
ngắn ngủi này, chúng ta hăy dành một ít phút để
suy gẫm về chính ḿnh, rà soát lại xem thế nào là linh
mục đích thực, và chúng ta đă sống thiên chức
linh mục ấy thế nào.
Vậy,
linh mục, người là ai?
H́nh
ảnh của linh mục rất đa dạng nơi
cảm nghĩ của dân chúng. Cách đây ba bốn
mươi năm, linh mục là người dâng thánh
lễ, cử hành các Bí tích, giảng dạy đức tin,
luân lư, Kinh Thánh, là con người của Giáo Hội,
độc thân, xa ĺa thế gian, mặc áo ḍng đen,
một viên chức có quyền thế, một nhà quư phái có
bàn tay trắng. Nhưng gần đây hơn, danh từ linh
mục gợi lên trong trí óc người ta, h́nh ảnh
của một người bạn nghèo, có bàn tay chai
cứng, đấu tranh cho ḥa b́nh, cho độc lập,
cho tự do, tham gia chính trị, vận động yêu
nước, chống tham nhũng…
Những
ư tưởng chồng chất ngổn ngang, có khi mâu
thuẫn và hời hợt như người ta móc
đầy áo đủ loại trên một cái móc áo. Chúng ta
hăy bắt đầu cởi bỏ những ǵ gán cho linh
mục và chỉ giữ lại thực chất của linh
mục, được truyền thống giới thiệu
bắt đầu từ Chúa Giêsu cho đến các linh
mục ngày nay.
Đă
từ lâu, các nhà thần học, v́ muốn truy t́m chính xác,
đă tháo gỡ guồng máy Giáo Hội ra và đă
định vị từng bộ phận. Do đó, họ
đưa Đức Giáo Hoàng ra khỏi Giám mục đoàn,
Giám mục ra khỏi linh mục đơn giản, tu
sĩ ra khỏi những người được
rửa tội, linh mục khỏi giáo dân, Đức
Nữ Đồng Trinh khỏi các thánh khác và khỏi
Hội Thánh chung chung, bảy phép Bí tích ra khỏi những
động tác Bí tích của Hội Thánh. Tháo rời như
vậy để hiểu rơ hơn từng bộ phận
một.
Giờ
đây, có chiều hướng đổi ngược. Các
nghị phụ Công Đồng Vatican II cũng như các nhà
thần học mới, ráp lại, đặt các bộ
phận vào trong toàn khối. Họ đặt Đức
Giáo Hoàng trong Giám mục đoàn và trong Hội Thánh (Phêrô
tuy đứng đầu, nhưng cũng là một trong
nhóm 12 và nhóm 12 cũng là toàn thể dân Chúa), đặt
linh mục trong cộng đoàn tín hữu, đặt
đời sống tu tŕ trong đời sống những
người được rửa tội, đặt các
Bí tích trong Hội Thánh và Hội Thánh được coi là Bí
tích Mẹ, đặt Đức Trinh Nữ Maria vào Mầu
nhiệm Chúa Kitô và Hội Thánh Người.
Đặc
biệt đối với các linh mục, sự biến
cải hiện thời của lịch sử, liên kết
với nền thần học mới, đưa linh
mục trở về hàng ngũ thực sự của ḿnh.
Ngày nay, linh mục có uy tín và thế giá, không phải chỉ
v́ ông được thụ phong linh mục, có chức
thánh, mà quan trọng là do đời sống tông đồ
và mục vụ của ḿnh. Bởi lẽ, xưa kia
người ta coi linh mục là người thông biết
mọi sự. Ngày nay, cùng với sự phổ thông văn
hóa, linh mục không c̣n là người duy nhất nắm
giữ kiến thức. Người giáo dân bây giờ
cũng thông thái, có khả năng chuyên môn, ngay cả
cũng đào sâu Kinh Thánh, giáo luật; có những
người có bằng cấp cao trong các trường
đại học công giáo. C̣n về tu đức, có
những giáo dân được công nhận như bậc
thầy. Họ cũng giảng pḥng, làm cố vấn thiêng
liêng như các linh mục, chẳng hạn như anh Francois
Duff, sáng lập Legio Mariae.
Đàng
khác, trong xă hội tục hóa hiện nay, các linh mục không
có vai tṛ nổi bật nữa. Không c̣n lối sống riêng
cho linh mục nữa, không có chỗ dành riêng cho các linh
mục trên khán đài danh dự nữa. Linh mục cũng không
than phiền về vấn đề này. Không c̣n là tai
mắt đáng được để ư, linh mục
lấy làm hạnh phúc sống ḥa ḿnh trong cộng đoàn
huynh đệ, thích làm một tín hữu giữa các tín
hữu, thích làm một công dân như các công dân khác.
Nhưng
không phải v́ thế mà chúng ta từ bỏ căn tính
độc đáo của linh mục. Trong thánh lễ
truyền chức linh mục, Đức Giám Mục hỏi
ứng viên:
- “Con
quư mến, con có muốn trở thành linh mục, cộng tác
viên của Giám Mục trong chức linh mục, để
phục vụ và dẫn dắt Dân Chúa dưới sự
hướng dẫn của Chúa Thánh Thần không?”
-
“Con có muốn trung thành chu toàn tác vụ Lời Chúa, nghĩa
là rao giảng Tin mừng và tŕnh bày giáo lư Đức Tin công
giáo theo truyền thống của Hội Thánh để
ngợi khen Thiên Chúa và thánh hóa Dân Kitô giáo không?”
-
“Con có muốn mỗi ngày kết hiệp với Linh Mục
Thượng Phẩm là Chúa Kitô, Đấng tận hiến
ḿnh cho Cha Người và với Người, thánh hiến
con cho Thiên Chúa để cứu rỗi loài người
không ?”
Sau
khi ưng thuận và hứa vâng phục Đức Giám
Mục, tiến chức đến quỳ gối
đặt tay vào ḷng bàn tay Đức Giám Mục. Rồi
cộng đoàn đọc kinh cầu Các Thánh, cả
triều thần thánh, cộng đoàn Dân Chúa đều
tập hợp và cầu nguyện cho tiến chức
đang nằm phủ phục dưới đất.
Đó là h́nh ảnh tuyệt đẹp, gây xúc động
trong ngày thụ phong linh mục.
Các
câu hỏi trên đây tŕnh bày súc tích căn tính của linh
mục, đó là hợp tác với Giám Mục điều
hành dân Chúa, rao giảng Lời Chúa và trao ban các Bí tích. Làm
mọi sự liên kết Đức Giám Mục trong kính
trọng và vâng lời. Nói cách khác, linh mục là hiện thân
của Đức Kitô, làm đầu của Nhiệm Thể
Người là Hội Thánh, kéo dài sự nghiệp Chúa Giêsu
ở trần gian để điều hành Dân Chúa, thánh hóa
và rao giảng Tin mừng. Nếu thánh Phaolô đă nhận
xét về ḿnh trong câu bất hủ: “Nay tôi sống,
nhưng không c̣n là tôi, mà Chúa Kitô sống trong tôi”, th́ linh
mục cũng có thể khiêm tốn tự hào nói lên: “Nay
tôi nói và làm, nhưng không c̣n là tôi, mà Chúa Kitô nói và làm qua tôi”.
Khi
nh́n ngắm đóa hoa phô sắc trên bàn thờ, người
ta dễ quên đi quá tŕnh h́nh thành của nó. Nếu chúng ta
theo dơi cây hoa từ khi mới được ươm
trong vườn, nó phải chống chọi với
sương nắng, với gió lạnh, đương
đầu với khí nóng, phải hút lấy nhựa
sống, hô hấp khí trời và thải ra những chất
carbon. Tất cả những tiến tŕnh này phải
lựa chọn và từ bỏ liên tục mới đi
đến thành công, giúp chúng ta đánh giá đúng mức
sự quư báu của đóa hoa mà chúng ta đang nh́n ngắm.
Cũng
vậy, từ một cậu bé chập chững đi vào
Tiểu Chủng Viện với cả một trời bí
mật bao trùm trên con đường ơn gọi cho
đến lúc lớn khôn, trưởng thành dần dần,
chú rồi thầy, rồi mới đến cha, bao nhiêu là
thử thách, bao nhiêu là cố gắng, bao nhiêu là kiên nhẫn
đợi chờ. Quá khứ nặng nề ấy chúng ta
đă vượt qua, nhưng đàng trước, là
bổn phận, là trách nhiệm. Đời sống linh
mục có vẻ đầy đủ, có khi khá huy hoàng,
nhưng là đời sống hy sinh, phục vụ quên ḿnh,
th́ làm sao không đau khổ. Trách nhiệm chồng chất,
trách nhiệm trong sự đều đều đến
kinh sợ, và trước tiên, là đời sống cô độc.
Có thể ví cuộc đời linh mục với thân
phận con gà treo, tuy bên ngoài đầy đủ thức
ăn nước uống, nhưng phải đứng im trong
ô chuồng không cựa quậy, trong một không gian
chật hẹp, mỗi ngày có bổn phận đẻ cho
chủ một quả trứng, không được đi
đó đi đây, không được bươi móc
như các con gà khác, v́ nếu được tự do thong
thả th́ mất trứng.
Trong
xă hội vật chất và hưởng thụ, người
ta bảo đời sống linh mục như vậy là g̣
bó, không thoải mái. Nhưng có đời sống nào trên
trần gian này hoàn toàn thoải mái? Công nhân, thợ
thuyền, giáo chức, nông dân, thương gia, sinh viên…,
mỗi người cũng phải nai lưng làm việc,
phải chu toàn mọi trách nhiệm của ḿnh, phải
đấu tranh vật lộn với đời và phải
tuân thủ mọi lề luật. Chỉ có lúc ngủ quên
hay chết, chớ không bao giờ nói đến chuyện
thoải mái, nếu mỗi người muốn sống
nghiêm chỉnh theo căn tính của ḿnh.
C̣n
hơn thế nữa, linh mục là người của muôn
người, được sai đi để phục
vụ, để làm đầy tớ thiên hạ, thế
tất phải sống đời hy sinh, c̣n lâu và c̣n xa
mới nói đến chuyện thoải mái vô tư trong
đời sống mục vụ. Đúng như Cha Chevrier
đă nói: “Linh mục là người bị ăn”.
Bị ăn, thế tất phải hao ṃn thân xác và tinh
thần.
Không
thể nghe theo những kẻ bệnh hoạn, kêu la ầm
ỹ, lượng định cách lệch lạc giá
trị cao cả của chức linh mục. C̣n tệ
hơn nữa, là đang mang trong ḿnh kho tàng quư báu, không
biết coi trọng, lại làm hoạt kê chân dung linh
mục trong đời sống ḿnh. Đa số 90% linh
mục âm thầm làm việc, tiến bước trên con
đường trọn lành bằng những bước
chân vững chắc, can đảm đương đầu
với mọi thử thách gian lao. Những người
không sanh sự, không khoác lác, ồn ào th́ không
được dư luận để ư đến, c̣n
thiểu số kia bỏ cuộc, th́ báo chí, truyền thanh,
truyền h́nh làm rùm beng gây tiếng vang ầm ỷ. Sức
sống thiêng liêng do các linh mục mang lại đang trào
dâng từ đầu năo, lan tỏa khắp thân thể là
Giáo Hội. Tại sao nói là đầu năo? Bởi lẽ
linh mục, hiện thân cho Chúa Giêsu, là Đầu của
Thân Thể Người là Giáo Hội. Trong sắc lệnh
về “Chức vụ và Đời sống linh mục”,
Công Đồng
Trong
quyển sách tựa đề “H́nh ảnh mới của
Hội Thánh”, Đức cha Ancel viết như sau: “Muốn
hiểu các linh mục, phải nh́n vào Giám Mục; muốn
hiểu các Giám Mục, phải nh́n vào các tông đồ;muốn
hiểu các tông đồ, phải nh́n vào Đức Kitô xét
như Đầu của thân thể, là Đấng sáng
lập và cứu chuộc Hội Thánh, một Hội Thánh
đang nhờ trung gian của Chúa Thánh Thần mà
Người đă sai đến để giảng
dạy, thánh hóa và dẫn đưa mọi người
về với Chúa Cha”.
Như
vậy, linh mục vừa là người được
rửa tội, trước hết và luôn luôn, linh
mục ở trong cộng đoàn tư tế của dân
Chúa, là chi thể cùng với các chi thể khác trong thân ḿnh
của Đức Kitô.
Vừa
là người được truyền chức, linh
mục đồng thời cũng là người
đứng trước cộng đoàn, như thể
một ai khác đang triệu tập và nói với cộng
đoàn, như thể là Đầu của Thân Ḿnh ấy.
Như
vậy, chúng ta có thể rút từ đây, những phận
sự chính yếu của linh mục là rao giảng Tin
mừng, cử hành các Bí tích và dẫn dắt đoàn chiên
Chúa giao phó.
Linh
mục là cộng sự viên của Giám mục, nên
trước tiên có nhiệm vụ loan báo Tin mừng của
Thiên Chúa. Lănh nhưng không, phải cho nhưng không. Lănh
Lời Chúa để phát, linh mục mắc nợ với
mọi người. Các linh mục phải thông truyền
chân lư Tin mừng mà Chúa đă trao cho họ và phải ra
sức thực hiện điều này trong mọi
trường hợp, dù khi họ sống một cuộc
đời tốt đẹp gương mẫu giữa
dân ngoại, lôi kéo dân ngoại ca tụng Thiên Chúa, dù khi
họ công khai giảng thuyết cho những người
chưa tin, dù khi họ dạy giáo lư Kitô giáo hay giải thích
học thuyết của Hội Thánh cho các tín hữu,
hoặc chuyên lo nghiên cứu những vấn đề
thời đại đi nữa, nhất là chu toàn bổn
phận truyền giáo đối với lương dân.
Cha
Andrée Depierre đă viết trong quyển “Gió muốn
thổi đâu th́ thổi” những lời trăn trở
sau đây: “Tôi thiết tưởng không phù hợp với
Kitô giáo khi đa số linh mục đều phục
vụ các cộng đoàn dân Chúa được quy tụ
trong Hội Thánh và chỉ một số nhỏ các linh
mục lo cho những người chưa nhận biết
Đức Kitô, mà số này đông biết bao”.
Phận
sự thứ hai của linh mục là thánh hóa Dân Chúa: các linh
mục được Thiên Chúa hiến thánh để tham
dự đặc biệt vào chức linh mục của Chúa
Kitô và để trong khi cử hành các việc thánh, họ
hành động như những thừa tác viên của
Đấng, nhờ Thánh Thần của ḿnh, vẫn không
ngừng thi hành chức vụ để mưu ích cho chúng
ta. Thực vậy, nhờ phép rửa, họ dẫn
đưa con người gia nhập vào Dân Thiên Chúa; nhờ
Bí tích thống hối, họ giao ḥa tội nhân với Thiên
Chúa và Hội Thánh; nhờ việc xức dầu bệnh
nhân, họ xoa dịu những ai đang đau đớn;
nhất là nhờ việc cử hành thánh lễ, họ
tiến dâng hy lễ của Đức Kitô cách Bí tích.
Như thế, tiệc Thánh Thể là trung tâm của
cộng đoàn tín hữu mà chủ sự là linh mục.
Ngoài ra, kinh Nhật Tụng hay Phụng Vụ Các Giờ
Kinh làm cho linh mục kéo dài thánh lễ suốt ngày,
đồng thời qua đó, các linh mục nhân danh Giáo
Hội, thành khẩn cầu cùng Thiên Chúa cho toàn dân đă
được trao phó cho các Ngài, và hơn nữa, các Ngài
cầu cho toàn thể thế giới.
Thừa
tác vụ thứ ba là làm chủ chăn Dân Thiên Chúa. Tuy phân
biệt thừa tác vụ linh mục làm ba chức năng
như xưa nay, đáp ứng với những khía cạnh
thật của sứ mệnh linh mục, nhưng trong
cụ thể, khi sinh hoạt, th́ cả ba gắn liền
và ḥa trộn lẫn nhau chẳng khác nào việc hô hấp,
tiêu hóa và tuần hoàn trong cùng một cơ thể. Lời
Chúa không ngừng lại ở ngưỡng cửa Bí tích,
trái lại ở đó, nó c̣n âm vang mạnh mẽ v́ tất
cả các Bí tích đều là những Bí tích đức tin.
Cũng vậy, chức vụ chủ chăn quy tụ Dân
Chúa không phải là chuyện làm sau khi cử hành xong phép Thánh
Thể, nhưng là quy tụ để cử hành Thánh
Thể. Một khi đă dành ưu tiên cho việc phúc âm hóa
và quan tâm đến các con chiên lạc, th́ các bổn
phận khác sẽ được bảo đảm và ḥa
chung trong một chức vụ chăn chiên. Như vậy,
linh mục là người quy tụ mọi người
trong Đức Kitô Giêsu, xây dựng cộng đồng,
mở rộng cộng đồng ấy và liên kết
với mọi cộng đồng trên thế giới, nói
cách khác, đào tạo và làm tăng trưởng Thân Thể
Chúa Kitô.
Sau
khi ôn kỹ bản chất và các chức năng của linh
mục, chúng ta hăy xét xem chúng ta sống chính danh như
thế nào. Mỗi ngày chúng ta có luôn trau dồi kiến
thức về Kinh Thánh để rao giảng không phải
lời riêng của ḿnh, mà Lời Chúa cho giáo dân đang khao
khát của ăn nuôi hồn không ? Chúng ta có chịu khó suy
gẫm trước và thực hành những điều chúng
ta phải tŕnh bày cho dân Chúa không? Hay chúng ta đă lợi
dụng ṭa giảng như diễn đàn để tranh
biện, để tự khẳng định ḿnh hoặc
chửi mắng la rầy giáo dân? Thật ra, có lúc cần phải
sửa dạy, nhưng luôn dùng lời tao nhă, luôn dùng văn
từ sao cho xứng với thiên chức linh mục của
ḿnh. Hăy bắt chước tiên tri Nathan khi phải sửa
sai Đavit.
Chúng
ta có luôn ra sức dâng lễ sốt sắng, không
đọc lua láu quá nhanh hay kề cà quá chậm, làm sao cho
Dân Chúa tham dự thánh lễ sốt sắng và tiếp
cận với hy lễ tuyệt vời này một cách
hữu ích để lănh nhận tối đa ơn thánh
không?
Hăy
rà soát lại cung cách chúng ta giải tội. Có coi đó
như một phương tiện tốt để ḥa
giải nhân loại với Chúa, những người anh em
với nhau, hay coi đó chỉ là xâu bơi cực nhọc?
Linh
mục trong ṭa giải tội đóng nhiều vai tṛ tế
nhị: vừa là cha, là thầy thuốc, là bạn, vừa
là thẩm phán, nhưng cũng là thầy dạy, là mẹ
hiền.
· -Chúng ta có sẵn sàng giải tội khi
giáo dân cần đến, hay chúng ta cứng nhắc tính
giờ định khắc để biến việc
xưng tội của giáo dân thành khổ cực và đáng
ngại không?
· -Chúng ta có sẵn sàng đi kẻ
liệt vào bất cứ giờ nào trong niềm xác tín
đây là dịp cuối cùng để chúng ta tiễn
đưa một cách quyết định người con
chiên của chúng ta vào cơi sống muôn đời không?
· -Chúng ta có chuẩn bị thanh niên nam
nữ đi vào cuộc hôn nhân cách chu đáo không?
· -Chúng ta có tích cực t́m hiểu ơn
gọi, nuôi lấy những mầm non để sau này
đưa các thanh niên ấy vào các ḍng tu, các chủng
viện, và tích cực tạo điều kiện tốt
để họ sống đời sống dâng hiến
trong tôn thờ và phục vụ đắc lực hơn
không?
· -Chúng ta có làm mọi sự với nhiệt
t́nh Nhà Chúa không?
· -Trong đời sống mục vụ,
trong giáo xứ, trong môi trường đào tạo, chúng ta
có cư xử đầy t́nh bác ái và xây dựng với
những cộng sự viên của chúng ta không?
· -Chúng ta có để cho các linh mục
đồng nghiệp, cho những ông câu, ông biện, những
người trong ban hành giáo có sáng kiến không? Chúng ta có tôn
trọng những đề nghị của họ không?
· -Chúng ta có lắng nghe trong đối
thoại chân thành và quyết định cách khách quan không?
Hay chúng ta biến họ thành những dụng cụ sai
vặt như những người đầy tớ
phải tuyệt đối vâng lời ông chủ? Chúng ta có
bóp chết mọi sáng kiến của họ, chỉ
đề cao cá nhân của ḿnh một cách chủ quan,
chỉ cho ḿnh là trung tâm truyệt đối bất khả
ngộ?
· -Chúng ta có ra sức tổ chức các
lớp giáo lư có hệ thống, có t́m những giáo lư viên
đắc lực, có sắp xếp các lớp theo lứa
tuổi và theo nhu cầu?
· -Chúng ta có t́m mọi cách biết rơ con
chiên của ḿnh để tận t́nh giúp đỡ hay là
dửng dưng sống chết mặc bay?
· -Trong đời sống xă hội,
với người lương cũng như giáo, chúng ta có
ngay thẳng trong lời nói, trong phong cách, trong lối
đối xử, cách ăn uống, nhất nhất
phải ư tứ cẩn thận, v́ qua đời sống
của linh mục, người ta phải nhận ra dáng
dấp của Chúa Giêsu Cứu Thế?
Những
tiêu chuẩn được đưa ra cho các linh mục
xưa nay là: Thánh thiện, nhiệt thành, trở nên muối
đất đèn đời, hoàn toàn quên ḿnh trong sứ
vụ, bất chấp khó khăn, hoạt động
hăng say dưới nhiều h́nh thức khác nhau để
mở mang Nước Chúa, nêu gương nhân đức,
chăm lo cho con chiên cả tinh thần lẫn vật
chất. Muốn đạt được những tiêu
chuẩn ấy, linh mục cần phải tự huấn
luyện ḿnh quảng đại, nhiệt thành, nội tâm
sâu sắc, sống giản dị, phục vụ tận
t́nh, sẵn sàng đối thoại không định
kiến
Như
vậy có quá đ̣i hỏi nơi linh mục hay không?
Tại
sao phải dồn hết gánh nặng trên vai của linh
mục?
Đúng
là sứ vụ của linh mục rất vinh dự
nhưng cũng rất nặng nề. Một viên ngọc
quư được đặt trong b́nh sành. Nhưng có Chúa
ở cùng, chúng ta không lo sợ. V́ theo sát gót Chúa Giêsu, nên
bổn phận chúng ta cũng làm con người-Chúa như
chính Đức Kitô. Có nghĩa là làm trung gian giữa
trời và đất.
Sau
đây tôi xin giới thiệu một chứng nhân anh hùng:
suốt đời chứng nhân đó đă theo sát gót Chúa
Giêsu trong ơn gọi của ḿnh. Người đó là cha
Đamiên, biệt danh tông đồ người hủi
ở đảo Molokai, một đảo nằm trong
quần đảo Hawai, giữa Thái b́nh dương.
Tại đây, từ 700 đến 800 người mắc
bệnh phong hủi đàn ông, đàn bà, trẻ con chồng
chất trong một pḥng nhỏ của đảo, bị
đuổi ra khỏi những đảo lân cận mà
trước kia họ ở, để khỏi lây bệnh
cho người khác. Mảnh đất chật hẹp dành
cho họ phía trước mặt là đại dương,
phía sau là một dăy núi sừng sững bao quanh, khó bề
thoát ra được. Lúc đó, người ta đă
biết rơ thế nào là phong cùi: một bệnh làm cho thân xác
mỗi ngày thêm thối rữa, người ta chứng
kiến cảnh thối dần, thối dần, cho tới
khi toàn thân biền thành cái thây ma. Khi bệnh phát hiện,
người ta biết từ đây trở nên dị
dạng dị h́nh, không thuốc men, chỉ có một
việc là chờ chết.
Mọi
người chỉ sống trong những túp lều cất
bằng gốc cây già và lợp lá; quần áo của họ
chỉ c̣n là những tấm giẻ rách thối tha.
Nước quá thiếu để được tắm
sạch, muốn có một chút khí để thở phải
ra khỏi lều. Người bệnh nhẹ luôn bị ám
ảnh trước mắt ḿnh những khuôn mặt
biến dạng, tay chân cụt ngủn đầy những
ung nhọt, và rơi rụng dần dần, xông ra những
mùi nồng nặc. Rồi đây họ cũng sẽ
trở nên giống như vậy. Không ai săn sóc họ,
họ chỉ sống nhờ nguồn tiếp tế duy
nhất đến từ chính phủ Hawai. Khi dù mang thực
phẩm được thả xuống, họ cướp
giật tranh nhau, họ không thiết ǵ canh tác trồng
trọt, chỉ có một điều cần duy nhất là
rượu, uống rượu để quên hết
những đau khổ và ưu phiền. Với những
người mới đến, người ta tuyên bố
ở đây không có luật lệ ǵ hết. Đó là sự
thất vọng hoàn toàn, một sự dơ bẩn ghê
tởm nhất. Không có ai mang lại cho những
người xấu số này một chút hy vọng sao? Cho
tới lúc đó, chỉ có những nhà truyền giáo tạm
dừng chân một vài ngày rồi lại đi mất,
nhưng Thiên Chúa đă không thể bỏ con cái Ngài.
Năm
1873, một nhóm sáu nhà truyền giáo họp với
Đức Giám mục. Đức Giám mục bày tỏ: “Khắp
nơi trong địa phận nhà đă được Phúc
âm hóa”. Một trong các vị truyền giáo trả
lời: “Thưa Đức Cha, Đức Cha đă quên
một ḥn đảo, phải, ḥn đảo đó là
Sau
một thời gian, Đức Giám mục nhận
được thư những người hủi, trong
đó có viết: “Thưa Đức Cha, cám ơn
Đức Cha v́ đă gởi đến cho chúng con một
linh mục, nhưng tại sao Ngài lại muốn cất
linh mục ấy đi, v́ linh mục này yêu thương
chúng con nồng nàn và rất muốn ở lại với
chúng con?”. Đức Giám Mục bằng ḷng chấp
thuận, và trước mặt những tín hữu mới
của Ngài, cha Đamiên tuyên bố: “Các con quư mến, cha
sẽ ở với các con cho đến măn đời.
Đời sống các con là đời sống của cha,
và nếu Chúa muốn, một ngày nào đó bệnh của
các con cũng là bệnh của cha. Cha sẵn sàng trở nên
hủi với chúng con”. Trong cái nghĩa địa
sống đó, cha Đamiên không ngừng làm phát triển
đức ái.
Một
ngày khi trở về lều ḿnh, cha nghe một tiếng
yếu ớt phát ra từ miệng hố. Ngài nh́n xuống
và thấy một người hủi nằm gọn trong
đó. Ngài hỏi: “Con làm ǵ ở dưới vậy?”,
người hủi trả lời: “Những người
khác đuổi con, con không chống lại được,
người ta nói con không cần lều để
chết”. Cha Đamiên đưa người đó vào
lều ḿnh và đặt người đó trên giường
ḿnh.
Lần
khác, Ngài đi ngang qua một hố đổ rát, thấy
một người đẩy một chiếc xe cút kít, sau
đó hắt một vật ǵ trên xe xuống đống rác,
cha tưởng là đồ dơ, nhưng khi vật
đụng đến đất, một tiếng
người khẽ rên lên. Người ta đă không
đợi cho anh ấy thở hơi cuối cùng
để vứt vào đống rác.
Cha
Đamiên, từ đó, tự đi đóng cho mỗi
người một cái ḥm. Để chôn những
người xấu số này, cha đă lập một nghĩa
địa. Cha Đamiên lo lắng chăm sóc cho hết
mọi người, băng bó mọi vết thương,
đỡ nâng những người không đi nổi, khai
mở nước từ xa về để cho
người phong cùi tắm rửa sạch sẽ. Những
túp lều cũ thối hôi đầy gián, mối, cha phá
đi để cất những lều mới. Cha Đamiên
quả thật là một người cha của mọi
người, ngay cả đối với những
người lúc đầu t́m cách trục xuất Ngài
khỏi đó. Có những lúc Ngài gặp những trở
ngại to lớn: chính phủ từ chối không cho Bề
trên Ngài đến thăm Ngài, hay đến nơi Ngài
ở. Ngài đành phải đứng dưới thuyền
để xưng tội to tiếng cùng với một linh
mục đứng giải tội trên tàu, v́ sợ lây
bệnh, nhà nước không cho cha ấy xuống đảo.
Năm
1885, sau một lần đi thăm bệnh trở về,
cha thấy chân ḿnh nhúng vào nước sôi mà không biết
nóng. Đó là dấu Ngài bị lây hủi. Ngài viết cho
Đức Giám Mục: “Người ta thấy có
những vết đỏ trên má con, bên tai trái con, lông mày
rụng, rồi đây con sẽ trở nên dị dạng.
Con cảm thấy rất an b́nh và hạnh phúc hơn bao
giờ ở giữa dân tộc của con”. Ngài tiếp
tục làm việc bốn năm nữa với cơn
bệnh ngày càng phát triển. Ngày 30.03.1889, Ngài nằm
liệt giường, Ngài nói: “Hăy xem tay tôi: các vết
thương đều đóng lại, vảy trở thành
đen. Đó là dấu chỉ sự chết đến
gần. Hăy xem mắt tôi: tôi đă giúp bao người
hủi hấp hối, tôi không lầm, sự chết không
c̣n xa”. Ngài chết ngày 15.04.1889.
Tấm
gương anh hùng trên đây đă nhắc cho chúng ta
bổn phận sống lời cam kết mà chúng ta
đọc mỗi ngày: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền
việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa
sống lại cho tới khi Chúa lại đến”. Loan
truyền và tuyên xưng không phải chỉ bằng môi
miệng, hay như người ta thường nói
“đầu môi chót lưỡi”, nhưng bằng chính
cuộc sống ḿnh. Biết hy sinh, biết chết đi
như Chúa Kitô trên thập giá, như cha Đamiên tông
đồ người hủi, trong niềm hy vọng
sống lại với Chúa.
Không
cần ǵ dốc ḷng nhiều lời, hăy cố tâm thực
hiện cho bằng được những cử chỉ,
dầu nhỏ mọn, để hy sinh và mang lại
niềm hy vọng, được như thế, là chúng ta
đạt được những ǵ Chúa muốn và
những ǵ ḷng ta, những linh mục chân chính, đầy
thiện chí, hằng ước mơ.
+ GM Phêrô Nguyễn Soạn VietCatholic News (28/02/2005)
Căn cước tính
đời Linh Mục
Từ khi Chúa Giêsu kêu gọi 12 Tông đồ và truyền
chức Linh mục cho họ trong Bữa Tiệc ly
trước khi chịu đau khổ vác thập gía cho
tới bây giờ, đời sống Giáo Hội Chúa đă
trải qua hơn hai ngàn năm trên trần gian. Trong ḍng
thời gian này, Chúa vẫn hằng phát đi tiếng kêu
gọi con người sống dấn thấn làm việc
cho khu vườn đức tin của Chúa trong vai tṛ
chức vụ Linh mục. Và số người ( trẻ )
đáp lại tiếng Chúa kêu gọi luôn luôn liên tục khi
lên cao điểm, khi khủng hoảng xuống thấp
trong đời sống Giáo Hội.
Những người trẻ đáp lại tiếng Chúa kêu
gọi với ḷng nhiệt tâm hăng say phấn khởi.
Nhưng không v́ thế mà họ không gặp khó khăn
thử thách khi chọn muốn sống dấn thân theo
tiếng ơn kêu gọi làm linh mục. Đến khi
họ đạt đến đích điểm trở
thành Linh mục, đời sống cũng không đơn
gỉản đi phần nào. Trái lại có phần
phức tạp hơn, nhiều thách đố khó khăn
hơn. V́ linh mục phải chiến đấu với
chính bản thân ḿnh, với những dằng co về
bản tính con người, với khung cảnh văn hóa
đời sống xă hội sao cho nhân bản t́nh
người, sao cho xứng hợp trung thành với lời
đoan hứa ngày chịu chức Linh Mục: Adsum! – Này con
đây, xin sẵn sàng !
Và trong thinh lặng khi suy nghĩ về chức Linh mục,
họ cũng không khỏi gặp nhiều thắc mắc,
bỡ ngỡ, đôi khi lúng túng không biết rơ thế nào là
bản chất đích thực con người Linh mục.
1.Tấm thẻ căn cước
Ngày nay mọi người ở mọi đất
nước, ai cũng có thẻ căn cước, thẻ
chứng minh nhân dân. Không có tấm thẻ này, bị kể
là người bất hợp pháp, không có quyền công dân
trong đất nước đó. Trong các hăng xưởng
cũng thế, không có thẻ này không thể vào trong hăng được.
C̣n Linh mục, sau khi trở thành Linh mục cũng nhận
được tấm thẻ căn cước Linh
mục do ṭa Gíam Mục cấp chứng nhận.
Phải chăng Linh mục cũng cần thẻ căn
cước chứng minh là Linh mục? Trong trường
hợp hồ nghi hay thanh tra kiểm soát, tấm thẻ này
là giấy tờ chứng minh cần thiết.
Như vậy, phải chăng tấm thẻ này chứng
minh tất cả: Ông là Linh mục ? Không hẳn là như
thế. V́ con người không thể đơn giản
chứng minh bằng một tờ giấy chứng thư.
Bản chất con người c̣n sâu xa, lớn hơn, có
gía trị cao qúy hơn tấm thẻ căn cước
nhiều.
Vậy đâu là căn cước tính đời linh
mục?
2. Tôi là ai?
Đây là thắc mắc có lẽ từ khi Chúa Giêsu lập
chức Linh mục, và người ta sẽ c̣n thắc
mắc măi về vấn đề này trong ḍng thời gian.
Thắc mắc này cũng có thể phản ảnh cơn
khủng hoảng về chức Linh mục hiện nay bên
xă hội phương tây. Nhưng thắc mắc này
cũng là nhu cầu nội tâm của con người, khi
họ suy nghĩ hồi tâm về cuộc đời linh
mục của ḿnh. Thắc này theo tôi nghĩ là câu hỏi:
Tôi là ai? Tôi là ǵ?
Câu trả lời cho thắc mắc này mang nhiều sắc
thái khác nhau. Nếu theo khả năng sức lực, câu
trả lời sẽ bao hàm những ǵ ta có cùng có thể làm
được, như khả năng ăn nói, viết
lách, giảng dạy, điều khiển tổ chức,
có sức hấp dẫn thu hút người khác…
Nếu theo căn cứ bản chất con người, câu
trả lời sẽ không căn cứ trên những ǵ có (
habeo). Tôi không thể trả lời tôi là linh mục, v́ tôi
có chức Linh mục, đồng nghĩa với những
năng quyền Chúa và Giáo Hội ban cho tôi! Câu trả
lời như thế giáo điều và qúa đơn
giản. Nhưng phải căn cứ trên một nền
tảng khác. Nền tảng đó là bản chất (esse)
con người của ta.
Làm thế nào tôi nhận ra bản chất con người
của tôi? Câu hỏi này có liên quan đến nền
tảng đức tin. Và như thế không thể t́m
được câu trả lời từ chính tôi. V́
đời sống tôi không bắt nguồn từ tôi.
Nhưng nguồn đó ở trên tôi, tận trong tâm hồn
tôi, và là cùng tận đời tôi, là Alpha và Omega.
Nguồn đó là nhân vị đời tôi. Đă là nhân
vị, tôi không thể nào tự ḿnh qua gắng sức, qua
tài khéo léo thành tích cá nhân hay bằng cấp sản xuất
làm ra được.
Nhân vị đời tôi, tôi nhận được từ
Nguồi đó. Và ngoài Nguồn đó, không ai là con
người như tôi, có thể cho tôi điều đó
được.
3. Ego eimi – chính là tôi!
Trước ṭa xét xử, khi bị chất vấn về
căn cước tính con người của Chúa Giêsu: Ông có
phải là Giêsu thành Nazareth, Ông có phải là Đấng
Cứu thế, con Thiên Chúa không? Chúa Giêsu luôn luôn khẳng
định: Ego eimi – Phải chính là tôi đây! (Mc 14,61-62; Ga
4,25-26; 18,5-8).
Người bị mù ḷa từ khi lọt ḷng mẹ vẫn
ngồi ăn xin trứơc cửa đền thờ, sau
khi được Chúa Giêsu chữa cho lành bệnh sáng
mắt trở lại - nhân vị con người
được trả lại – đă nhất mực
trả lời cho những người nghi ngờ căn
cước tính của ḿnh: Ego eimi - Phải chính là tôi
đây!, chứ không người nào khác giống tôi đâu!
…Tôi biết ơn và tuyên xưng niềm tin vào Ông Giêsu, là
Thiên Chúa. Chính Ông ta đă chữa cho tôi lành bệnh sáng
mắt trở lại (Ga 9,1-40).
Ông Phero đă đánh mất căn cước tính con
người của ḿnh khi Ông chối bỏ không thuộc
về Chúa Giêsu, khi bị một người canh cổng
chất vấn: ouk eimi – Không tôi không thuộc về Ông ta!
Tôi không biết Ông ta là ai!
Chối bỏ như thế, Ông đă đánh mất
mối liên hệ với Chúa Giêsu, Thầy của ḿnh. Và v́
thế căn cước tính của Ông cũng bị
mất. Nhưng sau khi mối liên hệ Thầy tṛ được
nối lại trở lại qua ánh mắt nh́n của
Thầy Giêsu, cùng ḷng ăn năn hối lỗi của
ḿnh, Ông đă t́m lại được điều Ông
đă đánh mất: căn cước tính của ḿnh. ( Lc
22,54-62).
Như thế, có thể nói, căn cước tính con
người của linh mục, chính là người tin theo
Chúa Giêsu cho dù những yếu đuối tội lỗi,
khiếm khuyết thua kém…trong mọi hoàn cảnh vẫn
một mực không chối bỏ Ngài.
Cho dù trí tuệ không hiểu biết ǵ nhiều về Ngài.
Nhưng vẫn một ḷng trung thành với Ngá.
Cho dù gặp khó khăn cô đơn, bị thử thách
hiểu lầm trong đời sống hay đức tin
bị lung lay hồ nghi về Thầy Giêsu của ḿnh,
vẫn luôn tin rằng Thầy Giêsu là nguồn nhân vị
đời ta, và Ngài không bỏ rơi ta, như
trường hợp người mù ḷa được
chữa lành và Ông Phero.
Thần học gia Tin Lành D. Bonhoeffer trong ngục tù thời
Đức quốc xă, khi suy nghĩ về căn
cước tính con người của ḿnh, đă thốt
tâm t́nh thành lời cầu nguyện: „Wer ich auch bin, Du kennst
mich, Dein bin ich, O Gott - Lạy Chúa, là cha đời con, Cha
biết con là ai, dẫu thế nào con vẫn thuộc
về Cha!“
4. Amor ergo sum!
Đó là chiều hướng thượng giữa Linh
mục với Chúa. Nhưng linh mục c̣n đang sống
trên mặt địa cầu với mọi người,
họ cũng là con Chúa như ông. Vậy thế đâu là
căn cước tính con người linh mục, một
thụ tạo của Thiên Chúa có thân xác và trí khôn?
Câu định nghĩa thời danh Amor ergo sum! Tôi
được yêu, v́ thế tôi có mặt! có thể giúp
nhận chân ra căn cước tính con người của
linh mục trong đời sống xă hội con
người.
Được Chúa yêu thương kính trọng trong
cộng đồng Giáo Hội như bao anh chị em khác
qua Bí tích Rửa tội, linh mục cùng liên kết với
mọi người tín hữu Chúa Kitô trong đức tin,
qua ân đức của Thiên Chúa. Linh mục luôn măi là
người đă nhận lănh làn nước Bí tích rửa
tội, và tin vào Thiên Chúa như các người tín hữu
Chúa Kitô khác đă cùng lănh nhận làn nước bí tích rửa
tội. Đó là điều quan trọng hơn hết và là
chức Linh mục căn bản.
Nếu niềm tin này, chức Linh mục này không bén rễ
sâu, không phát triển trong tâm hồn, thiết tưởng
những ǵ gọi là việc làm của người có
chức linh mục trong Giáo Hội cơ chế hữu
h́nh, sẽ thiếu nền tảng và sai lạc
hướng.
5. Niềm hy vọng
Công đồng Vatican thứ hai đă định nghĩa
căn cước tính cho việc mục vụ của Giáo
Hội Chúa Giêsu ở trần gian: „ Vui mừng và hy
vọng, buồn sầu và lo âu của con người ngày
hôm nay, nhất là của người nghèo khổ, bị
ruồng bỏ quên lăng, cũng là niềm vui, hy vọng
nỗi lo buồn của Môn đệ Chúa Kitô. Không thể
nói là nhân bản, khi những ưu tư này không bén rễ
tận trong tâm hồn, và không gây được âm
hưởng nơi tâm hồn ngựi đối diện.
Cộng đồng dân Chúa được thành h́nh do con
người cùng liên kết với nhau trong đức tin
vào Chúa Giêsu Kitô, vào Chúa Thánh Thần và họ đang cùng nhau
trên đường về quê hương trên trời
nơi Thiên Chúa Cha ngự trị…“ ( Constitutio Pastoralis de
Ecclesia in mundo huius temporis – prooemium Nr.1)
Cuộc sống linh mục lẽ tất nhiên phải
hướng lên trời cao, nhưng không được quên
ḿnh đang c̣n sống trên đường lữ hành
với mọi người. Trước mặt Chúa, linh
mục cũng là con số không với hai bàn tay trắng, và
c̣n đang sống sinh hoạt trong khung cảnh văn hóa,
phong tục tập quán của con người thời
đại.
Cuộc sống mục vụ mà thiếu chiều kích nhân
bản t́nh người, thiết tưởng không những
không làm nhân chứng loan truyền Tin Mừng của Chúa có
hiệu qủa tốt cho con người, mà c̣n gây ra
những hiểu lầm gây thiệt hại nữa.
Đời sống linh mục mà chỉ dựa trên cảm
tính, như được kính trọng, được
xưng hô là người quan trọng có quyền hành, là
người nghĩ rằng một ḿnh làm được
hết mọi chuyện, và cho đó là căn bản
yếu tính của linh mục, thiết tưởng không
mang lại lợi ích tinh thần giúp xây dựng đức
tin ǵ cho con người.
Có câu chuyện ngụ ngôn kể lại: “ Vào một ngày
trong tháng năm, trên bầu trời trong xanh yên gió, chim chóc
tung cánh bay lượn ca hót líu lo. Th́nh ĺnh xưất
hiện một con chim đại bàng bay chao đi chao
lại giữa không trung. Chú chim đại bàng lật
trở ḿnh nằm ngửa giơ hai chân lên trời, hai cánh
dương ra để giữ thăng bằng giữa
khoảng không gian lơ lửng…
Chú c̣ bay ngang thấy vậy, lấy làm lạ dừng
lại ngắm nh́n và lên tiếng nói: Này lăo tiền bối!
Ngài đang giở thế vơ công ǵ vậy kỳ lạ qúa.
Tôi chưa thấy sự này bao giờ. Lăo tiền bối
c̣n sống hay đă chết mà sao nằm ngữa lơ
lửng giữa trời như vậy?
Chú chim đại bàng mắt lim dim trong tư thế
nằm ngửa ngó lên trời cao lên tiếng đáp lại:
Ta đâu có chết mà nhà người phải lo, phải
hỏi như thế!
Chú c̣ hỏi lại: Thế sao lăo tiền bối lại
nằm ngửa giơ chân cẳng vó ngựa lên trời
vậy?
Chú chim đại bàng huênh hoang đối lại: Nhà
người không nh́n thấy ta đang làm ǵ đó sao. Ta
đang trong tư thế giương hai chân ra chống
đỡ bầu trời. V́ nếu ta không làm như
thế, bầu trời sẽ xập xuống và chúng ta cùng
mọi loài sẽ chết toi!
Vừa nói xong những lời tự cao tự đại,
bỗng dưng cơn dông gío to từ đàng tây kéo tới.
Cây cối uốn ḿnh theo chiều gió nghiêng ngả tứ
phía bật gốc rễ, cành lá bay rơi rụng khắp
nơi… Thế là chú đại bằng hoảng hốt co
cụp đôi chân lại, lật xấp trở ḿnh theo
tư thế b́nh thường, và vụt đôi cánh bay
biến mất đáp xuống lùm bụi cây bụi rậm
gần đó để ẩn thân…
Chú đại bàng bay đi mất dạng không c̣n ai
chống đỡ bầu trời như chú nghĩ
tưởng. Nhưng bầu trời vẫn đứng
vững bao che vạn vật từ thuở tạo thiên
lập địa, dù có phải trải qua bao cơn giông
băo gió lớn…”
Nếu Tin Mừng của Chúa là niềm hy vọng cho con
ngựi, th́ linh mục người loan báo tin mừng đó
phải là chứng nhân sống niềm vui, niềm hy
vọng cho người khác.
***
Linh mục trong Giáo Hội Công giáo Roma theo nghi lễ Latinh
buộc giữ đời sống theo luật độc
thân không lập gia đ́nh. Xưa nay hầu như luôn có
tranh căi, phải chăng luật độc thân linh mục
cũng thuộc về ăn cước tính của linh
mục, nên linh mục phải sống như thế?
Điều này không là như thế. Luật linh mục
sống độc thân đă có một truyền thống
lâu dài trong Giáo Hội. Luật này do Giáo Hội Công Giáo
đặt ra ngay từ thời thế kỷ thứ tư
và từ thế kỷ thứ 11. dưới thời các
Đức giáo hoàng Leo thứ 9, đức giáo hoàng Victor
thứ hai và đức giáo hoàng Gregor thứ bảy đă
luôn khẳng định lại nhiều lần, cùng ra
những chỉ thị chặt chẽ về luật
buộc này với tất cả mọi giáo sỹ trong Giáo
Hội Công Giáo Roma.
Luật linh mục sống giữ độc thân, tuy không
là bản chất của chức Linh mục, nhưng
vừa là kỷ luật của Giáo Hội, vừa là
nếp sống tu đức cùng mục vụ đời
sống Linh mục.
Nếp sống nào cũng cần phải có kỷ luật,
cần phải có hướng sống dấn thân hy sinh.
Bậc sống Linh mục rao giảng làm nhân chứng cho
nước trời, cùng làm việc mục vụ
hướng dẫn tinh thần đạo gíao ban các phép Bí
tích, cần nếp sống tu đức hy sinh ngay từ
nơi bản thân của linh mục là điều cần
thiết. Điều này mang lại hiệu qủa thiêng
liêng cho chính bản thân linh mục và uy tín với
người tín hữu trong Giáo Hội.
Sống độc thân là một từ bỏ hy sinh trong
đời sống của một con người. Nhưng
Linh mục chấp nhận và sống trung thành với
kỷ luật độc thân đời linh mục là góp
phần ǵn giữ căn cước tính đời linh
mục, cùng nói lên t́nh yêu mến gắn bó với Ơn kêu Gọi
của Chúa cùng Giáo Hội của người ở
trần gian.
Điều này thuộc lănh vực tinh thần thiêng liêng
như lạ thường khó hiểu với tâm trí con
người chúng ta. Nhưng David Ben Gurion có suy tư: «
Người nào không tin vào điều lạ thường,
họ không biết đến thực tại. »
Năm Linh Mục 2009-2010
LM Đaminh Nguyễn
Ngọc Long
Lời
kinh đêm Chủ nhật của một linh mục
|
Notable and Quotable—Michel Quoist— The Priest: A Prayer on a Sunday evening
Posted by Kendall Harmon
"People
ask a great deal of their priest, and they should. But they should also
understand that it is not easy to be a priest. He has given himself in all
the ardor or youth, yet he still remains a man, and every day the man in him
tries to take back what he has surrendered. It is a continual struggle to
remain completely at the service of Christ and of others.
Here I am,
Lord, It's hard to
give one's body; it would like to give itself to others.
|
Lời kinh đêm Chủ nhật của một linh mục
Người ta thường đ̣i hỏi
nhiều nơi vị linh mục của họ, và đó
là điều nên làm. Nhưng họ cũng nên hiểu
rằng chẳng dễ ǵ khi làm một linh mục. Tuy
đă cống hiến hết cả niềm hăng say
của tuổi trẻ, thế nhưng ông vẫn c̣n là
một con người, và mỗi ngày con người trong
vị đó cố gắng lấy lại những ǵ ông
ta đă từ bỏ. Đó là một cuộc đấu
tranh liên tục để duy tŕ cho ḿnh hoàn toàn phục
vụ Chúa Kitô và những người khác.
Thật khó khi nâng đỡ những
người yếu đuối mà không bao giờ có
thể tựa vào kẻ mạnh.
Phụng Nghi
|
XE LĂN VÀ HY LỄ BAN CHIỀU
Nắng
chiều gần tắt, nhưng vẫn c̣n đủ
dọi sáng trong căn nhà nguyện của các linh mục
hưu dưỡng tại thành phố Saint Louis chiều
nay. Từng giọt nắng xuyên qua song cửa, đọng
lại trên từng đôi vai gầy g̣ của những
cuộc đời cũng đă xế chiều. Một
thời, họ đă từng là giáo sư , là mục tử
, là nhà truyền giáo với những bước chân
trần không mỏi mệt . Hôm nay, họ như những
giọt nắng chiều bắt đầu xuôi bóng. Vậy
mà trong cái tàn lụi của cuộc đời ấy,
họ đă để lại trong tôi một cảm xúc
nội tâm sâu xa.
Xúc
động v́ thấy trên 30 chiếc xe lăn, 30 cuộc
đời bệnh tật yếu ớt ấỵ dâng
thánh Lễ Đồng Tế tạ ơn. Họ dâng
lễ tạ ơn trong nắng chiều nhạt nhoà.
Từng chiếc áo lễ đă bạc màu như chính
cuộc đời của các Ngài. Những mái tóc trắng
bạc nhuốm màu gió sương. Từng cánh tay run
rẫy vẫn khát khao dâng lễ hiến tế . Chẳng
vị nào có thể cất lên nổi một lời kinh cho
trọn vẹn v́ hụt hơi, sức cạn. Riêng vị
chủ tế, sức khỏe khá hơn một tư, cất
lên lời kinh tiền tụng như lời tạ ơn
thay cho những những anh em tật nguyền.
Họ
dâng lễ tạ ơn khi đời không c̣n ǵ để
dâng. Họ dâng lễ tạ ơn khi đôi tay không c̣n
sức để nâng nổi một chén Thánh. Mấp máy
đôi môi trong mỏi mệt yếu đuối. Buông rũ
đôi tay trên vành xe lăn định mệnh. Một Thánh
Lễ Ban Chiều!
Nghi
lễ truyền phép làm tôi xúc động nhiêù. Từng hàng
tay run rẩy từ dăy xe lăn cũng muốn nâng lên
để hiệp thông. Niềm hiệp thông trong nỗi
đau tật nguyền . Trong già nua ṃn mỏi. Vậy mà
trên từng nét mặt già nua bệnh tật yếu ớt,
trong từng ánh mắt nhạt nḥa ấy vẫn phản
chiếu một tâm t́nh tri ân sâu thẳm. Tôi thầm nói
với chính ḿnh : “C̣n ǵ để tạ ơn nữa
nhỉ, khi cuộc đời đâu c̣n ǵ để đón
nhận. C̣n ǵ để tạ ơn khi cuộc đời
đang tàn lụi tiêu hao.” Tôi Không hiểu hết, nhưng
chính các ngài đă hiểu.V́ thế mới dâng lời
tạ ơn.
Mới
cách đây mấy hôm, tôi đi tham dự thánh lễ mở
tay của một Linh mục trẻ. Niềm hân hoan dạt
dào. Ca đoàn rộn vang tiếng hát . Rước Quay phim .
Chụp ảnh . Tấp nập bước chân.
Người Linh mục trẻ giang rộng đôi tay trên
bàn Thánh trong nét mặt hân hoan. Chấp tay khấn nguyện
và dâng lời tạ ơn thay cho muôn dân. Hàng ngàn con tim tham
dự cùng một nhịp rung, như ôm chầm
người Linh mục trẻ trong ḷng yêu thương
của Giáo hội. Lễ tan, người người vây
quanh. Chúc mừng . Hân hoan. Có cả nước mắt
hạnh phúc nữa. Màu áo phục sinh tung bay trong nắng
b́nh minh. Mây xanh trong vắt trên cao cũng như muốn
cuốn hút người Linh mục về phía cuối
Trời. Nhiều người trẻ hiện diện
nơi đó cũng thầm ước mong ngày nào có được
phút giây ấy. Phút giây của thần thoại. Phút giây
của Thiên đường . Rồi hôm nay, tôi đến
tham dự Thánh lễ ban chiều của những Linh mục
xế chiều trên xe lăn. Không rước xách. Không
tiếng hát. Không đưa rước. Không người
thân . Không c̣n lời chúc mừng . Nhà nguyện vắng.
Chỉ nghe rơ cọc cạch từng tiếng xe lăn
tiến vào. Nhiều hàng ghế trống, v́ tất cả
ngồi trên xe lăn. Một vài người phụ giúp
đẩy xe ngồi khuất cuối lối. Trên bàn
thờ, ánh nến cháy hững hờ. Dường như nó
cũng nhạt nhoà theo nắng. Những bông hoa cũng âm
thầm rủ cánh. Mỏi mệt. Có ai đó đă
để chưng cả tuần nay. Không gian tĩnh
lặng một màu chiều .
Tôi
th́ thầm với Chúa: “Chúa ơi, đời Linh mục
cuối cùng như vậy hay sao? Con cứ tưởng nó
măi rực rỡ như ngày lễ mở tay mấy hôm
trước chứ ”. Không có tiếng trả lời . Chỉ
có sự lặng im của thập giá phía cuối bàn
thờ. Thấp thoáng một bóng h́nh treo lơ lửng trong
chiều tím. Dường như đó là câu trả lời
cho tôi! Tôi không dám hỏi tiếp, chỉ cúi đầu thinh
lặng nh́n bóng thập tự và nh́n từng ḍng đời
đang trôi qua. Trôi qua nhưng sẽ không bao giờ tàn
lụi. Tất cả như ḍng sông đang trôi đi,
đi về với biển cả, về với
đại dương mênh mông. Họ như ánh hoàng hôn
đang lịm tắt để chờ đợi một
b́nh minh. Vẫn biết rằng giọt nắng chiều là
giọt nắng hiu hắt, Áng mây chiều là áng mây buồn
rũ. Cuộc đời về chiều cũng hiu hắt
buồn rủ, nhưng nó có nét ǵ nhiệm mầu quá
đỗi. Hứa hẹn một mùa phục sinh nơi
cuối trời. Bên ngoài vẫn là mùa Đông. Mọi
thứ xơ xác. Tuyết. Lạnh. Cây cối c̣n lại
nắm xương gầy. Có chút nắng nhưng chẳng
đủ sưởi ấm. Nó chỉ dọi sáng mong
dẫn lối đi và chờ đợi xuân về . Ngoài
trời cây rũ, lá rơi. Trong nhà cũng có những
mảnh đời đang rụng dần. Họ đă sống
đến tận cùng ơn gọi của chính ḿnh .
Biết chiếc lá đời ḿnh đang rụng nhưng
vẫn cất lời tạ ơn. Tạ ơn v́ sinh ra
một đời để được sống
đời đời. Tạ ơn v́ hy vọng một mùa
Xuân sẽ dọi sáng sau mùa Đông lạnh. Nắm
xương gầy của cây cối c̣n hy vọng phút
đâm chồi nảy lộc lúc Xuân sang. Các Linh mục xe
lăn hôm nay cũng đang mong chờ một Mùa Xuân
vĩnh cửu. V́ thế họ cất lời tạ
ơn. Tạ ơn cho họ. Tạ ơn cho đời và
tạ ơn thay cho tôi. Tôi thường so đo khi dâng
lời cảm tạ. C̣n các Ngài lại dâng lời cảm
tạ không chút so đo. Họ là những tia nắng
chiều nhưng vẫn c̣n dọi sáng để soi dẫn
ḷng tri ân. Như muốn nói rằng, đời là một
chuỗi ngày tri ân liên lỉ.
Không
hiểu thánh lễ của các Ngài dâng hôm nay có giống
như tâm t́nh của thánh lễ mở tay đầu
đời hay không ? Ngày mở tay tràn ngập vui
sướng, v́ cảm nghiệm t́nh Chúa quá bao la. Ngày mở
tay hạnh phúc, v́ giang tay đón nhận ơn trời . Hôm
nay, những đôi tay đó không c̣n sức để giang
rộng, nhưng trong tim th́ vẫn một ḷng cảm
tạ mênh mông. Thánh lễ nào mà chẳng mang ư nghĩa
tạ ơn . Nhưng thánh lễ tạ ơn ban chiều
với những cuộc đời xế chiều trên
những chiếc xe lăn hôm nay mang một chiều kích
hiến tế trọn vẹn quá. Dâng cả nỗi đau.
Dâng cả cuộc đời tàn. Đôi tay run rẩy làm nên
lễ dâng. Không cần của lễ. Chúa cũng chẳng
cần hy lễ . Ngài cần “một tấm ḷng tan nát khiêm
cung”. Bao lâu c̣n hơn thở, bấy lâu c̣n dâng lời
cảm tạ. Bao lâu c̣n ư thức ḿnh đang hiện
hữu, lúc ấy vẫn c̣n muốn nói lời tri ân.
Nắm đôi tay yếu ớt của một Linh mục tê
liệt trên chiếc xe lăn tôi hỏi :
- Cha có
mệt lắm không?
- Mệt.
Nhưng tạ ơn Chúa v́ đa "gần xong đời
lữ hành rồi.
Chao
ôi ! vẫn mênh mông một màu hy vọng. Không than thở.
Không trách móc, v́ thấy lấp ló tia sáng của màu nắng
vĩnh cửu . Hạt lúa ḿ của kiếp đời
đang mục nát để trổ sinh mùa lúa trường
sinh. Tôi nh́n các Ngài cô đơn trong nỗi đau tật
nguyền. C̣n các Ngài lại muốn chia sẽ một
niềm vui có Chúa. Tâm tư thật khác nhau. Người
đang lảnh nhận dạt dào như tôi th́ quên lời
tạ ơn. Kẻ đang mất mát héo tàn th́ lại dâng
lời chúc tụng. Đôi tay run rẩy mà lại cảm
thấy dư tràn, c̣n đôi taytay mạnh khỏe như tôi
lại cảm thấy thiếu thốn, mong thêm. Có phải
bàn tay nhiều rănh, hay v́ ḷng nhiều ngăn? Tôi tự
vấn ḷng ḿnh. Tôi đang đi t́m bằng cấp, vinh
dự, đi t́m một chỗ đứng trong đời.
Các Ngài đang trả lại cho đời vinh dự
bằng cấp và chỗ đứng, để đi vào
kết hiệp thâm sâu. Thầm nói với mọi
người “Chúa là phần gia nghiệp mà thôi”. Bao lâu
chưa cảm thấy Chúa là gia nghiệp, bấy lâu ḷng
vẫn cảm thấy đói. Miệng vẫn cảm
thấy khô và khát. Đời tôi hôm nay dường như
cũng đang thiếu vắng một tâm t́nh tạ ơn
sâu thẳm như thế. V́ ḷng chưa cảm thấy no,
hồn chưa cảm thấy đủ. Bao giờ cho
đuợc no đủ vẫn là nỗi giằng co trong
ḷng . Ḷng đang mong thêm nên ít khi tri ân những ǵ ḿnh có. Không
cảm kích những ǵ đang có, nên ḷng cứ phập
phồng xôn xao. Sóng gian tham vẫn cuồn cuộn, nên không
t́m đuợc nguồn b́nh yên cơi ḷng. Đôi khi nhận
một món quà nhỏ ai gởi, ḷng sung sướng nâng niu.
C̣n món quà cuộc sống lớn lao như đại
dương mênh mông, tôi lại thường quên dâng lời
cảm tạ.
Rồi
từng chiều khi nắng tắt bên đồi. Tiếng
xe lăn cọc cạch và âm vang Thánh lễ Tạ ơn
của các Linh mục tật nguyền trên xe lăn hôm
ấy lại văng vẳng bên tai. Nhắc nhở một
lời tạ ơn cuối chiều. Nắng tan dần và
ḷng cũng chùụng xuống như sương tan trong
đêm. Tan để hiểu được nguồn
nước ân sủng. Tan để biết thân phận
được tạo nên là để trở về
với đại dương mênh mông.
Rồi
trong chiều nhạt nắng hôm nay tôi cũng dâng lời
th́ thầm:
Chúa
ơi, nhớ lại hàng xe lăn tiến vào nhà nguyện
hôm nao,
con
nghe ḷng ḿnh xôn xao và bâng khuâng quá.
Bâng
khuâng v́ cảm kích những cuộc đời Linh mục
tàn tật, già nua
nhưng vẫn sống đến
tận cùng của đời hiến dâng.
Vẫn
chan chứa trong tim một tâm t́nh tạ ơn sâu thẳm.
Vẫn
tràn trào hy vọng cho dẫu bao rạn vở mong manh
của kiếp nhân sinh.
Có
những bước chân đẹp sẵn sàng lên
đường,
th́
cũng có những h́nh ảnh đẹp âm thầm hiến
tế mỗi chiều.
Họ là mẫu gương cho ḷng
tri ân của con hôm nay.
Xin
cho mỗi chiều khi nắng tắt,
th́ lời tạ ơn của con
cũng được dâng cao để tan dần theo
nắng.
Xin
cho Thánh lễ tạ ơn ban chiều con đến dự
hôm nao,
cũng
sẽ là từng chiều tạ ơn của đời
con hôm nay. Amen.
Nguyễn Thảo Nam, S.J.