|
|
Phụng Vụ và Công Đồng Vatican II Lê Quang Tŕnh “Lex orandi, lex credendi” Hiến chế về Phụng Vụ (Sacrosanctum Concilium) là tài liệu quan trọng nhất về Phụng vụ của Giáo Hội kể từ sau Công Đồng Vatican II (1962-1965). Tài liệu này được ban hành vào tháng 12 năm 1963, ngay trong thời gian Công Đồng chưa chấm dứt. Có lẽ v́ nhận thấy sự cấp bách trong đời sống Phụng vụ của Giáo Hội và nhu cầu cần phải thay đổi cho phù hợp với văn hóa và Đức tin nên Giáo Hội, qua Công Đồng Vatican II, đă cho ban hành văn kiện này ngay từ trong giai đoạn đầu tiên của Công Đồng. Sau Công Đồng Vatican II, một trong những thay đổi quan trọng nhất của việc cử hành Thánh lễ là tiếng La-tinh được thay thế bằng tiếng địa phương, làm cho người giáo dân tham dự hiểu được ư nghĩa của Thánh lễ và cảm thấy những nghi thức trong Phụng vụ (mới) trở nên gần gũi với văn hóa, phong tục, và tâm t́nh ḿnh, do đó, được tham dự một cách tích cực và trọn vẹn hơn. Ngày trước, khi Công Đồng Vatican II chưa được mở ra, phụng vụ thường được quan niệm là việc của các linh mục, giám mục, giáo sĩ... là những người đă chịu chức thánh. Nhưng từ sau Công Đồng Vatican II việc cử hành Thánh lễ và các Bí tích khác trong Phụng vụ hầu hết đều có sự tham dự của giáo dân. Không những thế vai tṛ của giáo dân trong các nghi thức phụng vụ c̣n làm nổi bật tích chất cộng đồng của việc hiệp dâng trong Thánh lễ và các Bí tích. Nếu không có sự tham dự của giáo dân, Thánh lễ và các nghi thức khác của Giáo Hội như phép Giải tội, phép Hôn phối, phép Rửa tội... và ngay cả phép Truyền Chức thánh cũng chỉ c̣n là những nghi thức tẻ nhạt, thiếu linh động, và không c̣n mang ư nghĩa “hiệp dâng.” Công Đồng Vatican II đă đặt lại cái nh́n của Giáo Hội và vai tṛ của người giáo dân, đặc biệt là trong đời sống ân phúc và qua việc cử hành các nghi thức phụng vụ (cầu nguyện) chung. Ngạn ngữ tiếng La-tinh có câu, “lex orandi, lex credendi,” (luật cầu nguyện là luật Đức tin) qua đó Đức tin của người tín hữu được thể hiện bằng việc cầu nguyện và cử hành các nghi thức chung. Nh́n vào một cộng đoàn biết cầu nguyện, người ta có thể biết được tŕnh độ Đức tin của cộng đoàn ấy. Một cộng đoàn chỉ cầu nguyện qua h́nh thức hoặc máy móc là dấu hiệu cho thấy cộng đoàn ấy không có đời sống Đức tin thật sự hoăc đời sống Đức tin c̣n yếu kém, hoặc có khi c̣n bị khủng hoảng trong đời sống Đức tin. Và v́ trung tâm điểm của đời sống Đức tin là việc cầu nguyện nên trong đời sống Đức tin, phụng vụ chiếm một phần rất quan trọng. Trích thư Thánh Phao-lô gửi Giáo đoàn Rô-ma, Hiến chế về Phụng Vụ của Giáo Hội ban hành năm 1963 đă lập lại: “...làm sao họ có thể kêu cầu Đấng mà họ không tin? Và làm sao họ có thể tin Đấng mà họ chưa hề nghe?’ (Rm. 10: 14) Ngày nay, hơn 40 năm sau Công Đồng Vatican II, người giáo dân tham dự Thánh lễ và các nghi thức Phụng vụ của Giáo Hội đă cảm thấy ḿnh là một phần của Giáo Hội và những ǵ Giáo Hội dạy về vai tṛ của người giáo dân hầu như đă thấm sâu vào cơ thể. Người giáo dân tự cảm thấy ḿnh có trách nhiệm và bổn phận duy tŕ các cơ chế và nghi thức của Giáo Hội, bất chấp những trào lưu thay đổi hay những khuynh hướng thế tục đến từ nơi này hoặc nơi khác. Những h́nh thức phụng vụ từ trước Công Đồng Vatican II hầu như đă đi vào quên lăng... Gần đây, như để thỏa măn ước vọng của một số người, Giáo Hội đă cho phép cử hành Thánh lễ theo nghi thức cũ từ trước Công Đồng Vatican II (Tridentine). Qua văn kiện Summorum Pontificum ban hành ngày 7 tháng 7 vừa qua và có hiệu lực kể từ ngày 14 tháng 9, các linh mục chánh xứ có thể cho cử hành Thánh lễ theo nghi thức cũ mà không cần có phép của Giám mục sở tại. Nghi thức này xử dụng tiếng La-tinh, - nên cũng gọi là Thánh lễ La-tinh -, và những người tham dự từ trước Công Đồng Vatican II c̣n nhớ: vị linh mục cử hành đứng quay lưng ra phía giáo dân, các bài đọc và các lời nguyện đều bằng tiếng La-tinh, và những người lên rước lễ quỳ theo hàng dài dọc theo bàn quỳ - cũng là “hàng rào” ngăn đôi phần cung thánh phía trên và phần nhà thờ phía dưới nơi dành cho giáo dân... Vị linh mục cử hành Thánh lễ từ trên bàn thờ bước xuống và cho giáo dân rước lễ. “Hàng rào” này cũng tượng trưng cho sự ngăn cách giữa vị chủ tế (hay hàng linh mục và giáo sĩ nói chung) với thành phần đông đảo giáo dân tham dự. Và dĩ nhiên trong nghi thức phụng vụ này, người giáo dân không có vai tṛ ǵ như hiện nay. Việc đọc sách, dâng lời nguyện, cho rước lễ... đều do vị linh mục hoặc giáo sĩ làm. V́ ngày trước việc phụng vụ được quan niệm là của các linh mục và giáo sĩ, người giáo dân chỉ tham dự một cách thụ động và người cử hành có vai tṛ thay thế giáo dân trong việc dâng lên Thiên Chúa những lời nguyện hay các hành động tôn thờ. Quan niệm đó cũng phù hợp với vai tṛ của Giáo Hội trong nhiều thế kỷ trước cho rằng Giáo Hội là các phẩm trật từ Đức Giáo Hoàng đến các giám mục và linh mục, c̣n giáo dân chỉ là thành phần phụ thuộc. Hiến chế về Giáo Hội (Lumen Gentium) đă đặt lại vai tṛ của giáo dân trong Giáo Hội và quy định rằng Giáo Hội là mọi thành phần dân Chúa được tham dự qua việc nhận lănh Phép Rửa tội và bằng đời sống ân sủng, chứ không phân biệt địa vị, tuổi tác, màu da, ngôn ngữ v.v... Việc cử hành bằng tiếng La-tinh làm cho những người tham dự không hiểu và không theo dơi được. Hậu quả đương nhiên là việc tham dự của cộng đồng không tích cực và sống động. Trong khi người cử hành (quay lưng về phía giáo dân) chăm chú vào các lời nguyện và các hành động tôn kính th́ những người tham dự, v́ không hiểu hoặc không theo dơi được nên dễ bị chia trí, sẽ t́m cách cầm trí bằng những ‘nghi thức’ tôn kính riêng của ḿnh như đọc kinh, cầu nguyện riêng, lần chuỗi v.v... và do đó, Thánh lễ không c̣n là một hành động hiệp dâng và tôn thờ đầy ư nghĩa của một cộng đồng mà chỉ c̣n là một việc tôn kính riêng của một số người. Sự xa cách nhiều khi c̣n sâu xa hơn khi một số người tham dự, v́ không hiểu các lời nguyện và kinh đọc bằng tiếng La-tinh và v́ thấy vị chủ tế như không c̣n “một ḷng” với ḿnh, sẽ quay ra đọc kinh riêng hay âm thầm lần chuỗi (bằng tiếng mẹ đẻ)... hoặc suy nghĩ về những ǵ đang diễn tiến như khi ta đi xem hát hoặc xem kịch, chứ không thật sự tham dự vào việc hiệp dâng Thánh lễ. Hiến chế về Phụng Vụ của Công Đồng Vatican II có ghi: “Để việc phụng vụ mang lại lợi ích tối đa, người tín hữu cần tham dự với cung cách thích hợp, với ḷng trí và miệng lưỡi hợp nhất với nhau, và cùng ḥa nhập với ân sủng; nếu không th́ chẳng được ơn ích ǵ. Các vị mục tử, do đó, phải thấy rằng khi các nghi thức phụng vụ được cử hành, có điều cần thiết cao trọng hơn chứ không phải chỉ tuân theo những quy luật áp dụng cho việc cử hành; những người mục tử có bổn phận bảo đảm cho người tín hữu được tham dự trọn vẹn và thông hiểu những ǵ họ làm và nhận lănh được ơn ích do việc tham dự.” (Sacrosanctum Concilium, Chapter I, #11). Đức Giám mục Emil Wcela, 76 tuổi, trước đây làm Giám mục Phụ tá Giáo phận Rockville Center ở New York, trong một bài gần đây đăng trên báo America có viết rằng: “Khi tôi nhớ lại trước đây ḿnh đứng dâng lễ quay mặt vào một bức tường - dầu bức tường đó quay về hướng Đông - và sau đó lần đầu tiên đứng dâng lễ quay mặt về phía giáo dân, tôi thấy ḿnh cảm động làm sao, v́ chính nơi những người tham dự ấy tôi được chia xẻ đời sống và Đức tin...” (When I imagine celebrating again toward the back wall, even an eastern wall, I remember how deeply moved I was the first time I was able to celebrate facing the congregation, whose faith and life I shared.” (America Magazine, Oct. 8, 2007) Những người Công giáo thường xuyên tham dự Thánh lễ từ hơn 40 năm nay có lẽ phần đông không c̣n nhớ ǵ về nghi thức phụng vụ Thánh lễ từ trước Công Đồng Vatican II (1962), và nhất là không mấy ai c̣n luyến tiếc ǵ. Ngày nay người ta đă cảm thấy hài ḷng với những thay đổi về Phụng vụ do Công Đồng Vatican II mang lại. Thánh lễ ngày nay quy tụ một cộng đồng dân Chúa, cùng nghe và đọc một ngôn ngữ mà ai nấy đều cảm thấy gần gũi với ḿnh, và không c̣n thấy xa cách với vị chủ tế trong khi hiệp dâng Thánh lễ. “I rejoiced because they said to me, We will go up to the house of the Lord. And now we have set foot Within your gates, o Jerusalem.” (Ps. 122) Theo thư gửi các giám mục trong dịp ban hành văn kiện Summorum Pontificum th́ nguyên do chính thúc đẩy việc cho phép cử hành lại nghi thức cũ là v́ vẫn c̣n một số người và một số nhóm Công giáo như Tu hội Piô X của Đức TGM Lefèbre muốn trở về nghi thức phụng vụ cũ và Giáo Hội muốn giúp họ có cơ hội ḥa giải với Giáo Hội. Việc cho phép cử hành lại một cách rộng răi hơn nghi thức bằng tiếng La-tinh sẽ giúp những người này trở về gần gũi với Giáo Hội hơn. Nhiều người c̣n nhớ Đức TGM Marcel Lefèbre (1905-1991) của Pháp sau Công Đồng Vatican II đă không chịu theo những cải đổi của Giáo Hội, mà việc cử hành Thánh lễ và các Bí tích bằng tiếng địa phương là một; và sau khi truyền chức giám mục cho bốn linh mục thuộc phái Traditionist (Truyền Thống) của ngài vào năm 1988, đă bị tuyệt thông (excommunicated). Ngày nay Phong trào Piô X đă trở nên một tu hội (Priestly Society of Saint Pius X)) do một vị giám mục đứng đầu và có cơ sở trên 5 quốc gia kể cả Hoa kỳ. Trước khi ban hành văn kiện Summorum Pontificum Đức Giáo Hoàng Bênêđictô cũng đă tham khảo ư kiến với Đức Giám mục Fellay là vị lănh đạo của Tu hội này, theo nhiều người cho biết. Trang lưới điện toán (website) của Tu hội này cũng c̣n cho biết ngoà́ việc hân hoan đón nhận chỉ thị của Đức Giáo Hoàng về việc cho phép cử hành phụng vụ theo nghi thức cũ, Tu hội Piô X c̣n mong ước được Ṭa thánh xóa bỏ vạ tuyệt thông đối với Đức TGM Lefebre trước đây và các giám mục sau này. Huấn thị Summorum Pontificum nhấn mạnh rằng việc cho phép cử hành lại nghi thức phụng vụ cũ trước Công Đồng Vatican II không có nghĩa là thiết lập trong Giáo Hội hai nghi thức phụng vụ khác biệt mà chỉ là một nghi thức với hai cách cử hành khác nhau. Và nghi thức hiện nay (sau 1970) vẫn là nghi thức thường lệ và nghi thức cũ (Tridentine) là ngoaị lệ (extraordinary). Nhiều ngưoi vẫn cho sự phân biêt này chỉ có trên lư thuyết và sách vở. Trên thực tế, theo những người này, nếu một số người c̣n theo nghi thức cũ trong khi hầu hết cộng đồng dân Chúa vẫn theo nghi thức phụng vụ đă có từ gần 40 năm nay, làm sao khỏi có sự ngăn cách? Đằng khác, ngày nay không phải Linh mục nào cũng làm lễ bằng tiếng La-tinh được, v́ tiếng La-tinh không c̣n là điều kiện tất yếu trong việc tuyển chọn và đào tạo các linh mục nên hầu hết các linh mục ngày nay hoặc không thông thạo hoặc thấy không cần thiết để học tiếng La-tinh, nên việc cử hành bằng tiếng La-tinh chỉ dành cho một số linh mục đă được đào tạo từ trước. Ngoà́ ra, theo Linh mục Richard McBrien, giáo sư Thần học ở Đại học Notre Dame nhận xét: Những người Công giáo ngày nay từ 50 tuổi trở xuống nào có biết Thánh lễ Tridentine là ǵ, làm sao họ có thể quư mến hay luyến tiếc ǵ một điều mà họ chưa hề biết? (The Tidings, Oct. 26, 2007). ▣ “For whoever calls upon the name of the Lord shall be saved. How then are they to call upon Him in whom they have not believed? But how are they to believe Him when they have not heard? And how are they to hear if no one preaches?” (Rm. 10: 13-14) |
|
|