BCH/CCSLSQN/HN
Email:ccslsqn_bch@yahoo.com

 
      HỘI CỰU CHỦNG SINH LÀNG SÔNG QUI NHƠN XIN KÍNH CHÀO QUÍ VỊ


THE ALUMNI ASSOCIATION OF LANGSONG QUINHON SEMINARY


  
HOME

  VÀI NÉT            

  LIÊN LẠC
  CCSLSQN STAFF

  TIN TỨC   

  THÔNG BÁO

  TIN VUI              

  TIN BUỒN                    

  BẠN VIẾT            

  LIÊN KẾT              

  DOWNLOAD
  THƯ TÍN
  GỬI BCH

  THƠ & NHẠC

  NÊN BIẾT

  THỜI SỰ

 

 

 


HỔ TRỢ TRUYỀN GIÁO
 

 


DỰ THẢO NỘI QUI
 

 
 


              CHÑNG-VIÊN LANG-
SÔNG QUI-NH÷N      

                                                                                                                   CONG-LUÂN  (sưu tập)

            Danh xÜng ‘’ CHÑNG VIN ‘’ cho ta cäm nhÆn ÇÜ®c r¢ng : ñây là ÇÎa-Çi‹m Ç¥c biŒt Ç‹ ÜÖm GiÓng ,hay nói Çúng hÖn : nÖi Ç‹ Çào-tåo hàng Linh-møc, vì  theo s¿ thi‰t-lÆp
( Giáo H¶i ) cûa Chúa Giê-su KiTô  ‘’ Çã có con chiên, tÃt nhiên phäi có chû chiên ‘’ . NhÜ vây, tìm hi‹u sÖ lÜ®c vŠ LÎch-sº Chûng-viŒn cûa Giáo phÆn nhà tܪng cÛng là ÇiŠu h»u ích . RÃt ti‰c vì  nÖi ÇÃt khách quê ngÜ©i ,   tài liŒu nói vŠ Chûng-viŒn Làng-sông / Qui-nhÖn quá hån hËp, nên viŒc sÜu-tÆp không ÇÜ®c mÃy ÇÀy Çû, còn nhiŠu thi‰u sót . Kinh mong quí bÆc cao niên vui lòng b°-túc thêm .

          N¶i san Liên Låc cûa H¶i Ai-h»u C¿u Chûng-sinh Làng-sông Qui-nhÖn tåi California, sÓ k›-niŒm LÍ Thánh Quan ThÀy Giu-Se næm 2000, trang 86, có m¶t bài tÜ©ng-thuÆt do  NguyÍn-trÜ©ng- Thæng sÜu-tÆp . Bài báo mô tä:  Ngày 14 tháng 12 næm 1963, Chûng-viŒn Làng-sông mØng  ‘’ K›-niŒm bách chu niên ‘’. PhÀn mª ÇÀu cûa bài này ghi nhÆn : Trích tØ bän Thông-tin ñÎa-phÆn ñà-N¤ng và Qui-NhÖn tháng 4 næm 1964 và ghi chú rõ tác giä NguyÍn-trÜ©ng-Thæng chính là Linh-møc      NguyÍn-trÜ©ng-Thæng, Chûng-sinh Làng-sông Qui-nhÖn, hiŒn nay là Cha sª Giáo-xÙ Thanh-Bình, ñà-n¤ng . Bài báo tÜ©ng-thuÆt khá chi ti‰t vŠ viŒc t° chÙc bܰi  LÍ ‘’ MØng M¶t Træm Tu°i ‘’  cûa Chûng-viŒn, có s¿ hiŒn diŒn cûa hai Giám-møc : ñÙc Cha Phêrô Phåm-ng†c-Chi, Giám-møc  ñà-n¤ng chû-t‰ và ñÙc Cha ñaminh Hoàng-væn-ñoàn, Giám-møc Qui-nhÖn thuy‰t giäng. Ngoài ra còn  có hai Cha Chính cûa hai ñÎa-phÆn Qui-nhÖn và Kontum, Cha Giám-ÇÓc Chûng-viŒn Làng-sông cùng m¶t sÓ Çông Linh-møc tham-d¿ mà Cha già Tš là niên-trܪng, phát bi‹u cam-tܪng .

          N‰u quä thÆt Çúng vÆy, thì Chûng-viên Làng-sông Qui-nhÖn Çã ÇÜ®c thành-lÆp tØ næm 1863 .

          CÛng trong N¶i san Liên Låc næm 1996, trang 29, có m¶t bài cûa Cha NguyÍn-trÜ©ng-Thæng, vi‰t tØ Paris, Pháp quÓc ( Khi Ngài Çang du h†c tai Çó ) nói vŠ LÍ Khánh-thành tân Chûng-viŒn Làng-sông ngày 21 tháng 9 næm 1927, và ghi rõ trích bän tin Khánh-thành Ti‹u Chûng-viŒn  nhân dÎp mØng Ngân-khánh Giám-møc cûa ñÙc Cha GRANGEON ( MÅn ) và Ngân-khánh Linh-møc  cûa Cha Chính ñÎa-phÆn Labiausse ( CÓ Sáng ) và Cha Giám-ÇÓc Ti‹u Chûng-viên Cha Gagnaire ( CÓ ñÎnh ) , Çæng trong Mémorial de Quinhon cuÓi næm 1927 .

          ñ‹ tìm hi‹u gÓc-tích Chûng-viŒn Làng-sông Qui-nhÖn thêm chi-ti‰t hÖn, tܪng cÛng nên Çi ngÜ®c lai dòng lÎch-sº Giáo-H¶i ViŒt Nam .

        Cæn cÙ vào Sº-liŒu chính-thÙc thì Giáo-H¶i Viêt Nam ÇÜÖc k‹ tØTh‰-k› thÙ XVI ( 1533 ) . Công viŒc rao giäng Tin MØng Phúc Âm trong bu°i sÖ-khai do các Giáo-sï thu¶c các Dòng ña-minh và Phan-xi-cô Çäm-trách mà cÖ-sª truyŠn giáo chính n¢m tåi Ma-cao ( Trung-Hoa ) và Ma-ni-la (Phi-luÆt-Tân ). Tåi Çäo Malacca, Tu-viŒn Santa Cruz cÛng là m¶t Trung tâm TruyŠn-giáo cho cä vùng ñông Nam Á lúc bÃy gi©.   Sang ÇÀu Th‰-k›  XVII ( 1613 ) có thêm các Giáo-sï Dòng Tên ljn tØ NhÆt-Bän, trong sô này có Linh-møc Buzomi ( gÓc Ý- 1615-1638 ) hoåt-Ƕng rÃt Çæc-l¿c  ª vùng Nam-hà. ñ‰n næm 1626 Dòng Tên mª r¶ng TruyŠn-giáo ra B¡c-hà, lai có Cha A-lÎch-sÖn ñ¡c-L¶ ( Alexandre De Rhôdes ) , ngÜ©i Çã sáng lÆp ra vÀn QuÓc-ng» . ñ‹ Çào-tåo nh»ng c†ng-s¿-viên ngÜ©i bän xÙ trong công viŒc mª mang nܧc Chúa, Cha Buzomi Çã thành-lÆp  ‘ H¶i ThÀy Giäng ‘ tåi xÙ Nam-hà .ñó là m¶t t°-chÙc gÒm nh»ng thanh-niên Ƕc thân, Ç‹ lúc nào cÛng có th‹ sÓng bên cånh các ThØa sai và hy-sinh tÃt cä cho hoåt-Çông  truyŠn-giáo . Rút kinh-nghiŒm s¿ cÀn thi‰t và l®i ích cûa H¶i ThÀy  Giäng  Nam hà, Cha ñ¡c-L¶ cÛng quan tâm t° chÙc  h¶i ThÀy Giäng tåi miŠn B¡c hà . Các ThÀy Giäng tuyên hÙa ba ÇiŠu : SÓng Ƕc thân trong th©i gian hoåt-Ƕng truyŠn giáo, vâng l©i các ÇÃng BŠ-trên và Ç‹ tÃt cä làm cûa chung cho C¶ng-Çoàn Dân Chúa .  Á Thánh An-rê Phú-yên Tº ñåo là m¶t ThÀy Giäng . ñó là nguÒn gÓc  ‘’ Nhà ñÙc Chúa Tr©i  ‘’  ª miŠn B¡c sau này, nÖi xuÃt thân cûa nh»ng Linh-møc bän xÙ tiên khªi ( Les origines des Clergés Vietnamiens - Saigon-1959) và cÛng g†i ÇÜ®c là mô-hình Chûng-viŒn lúc ban khai tåi ViŒt-Nam.

          HÖn m¶t træm næm sau, ngày 9 thánh 9 næm 1659, ñÙc Thánh Cha Alexandrô VII
( 1655-1667 ) công-bÓ s¡c lŒnh thi‰t lÆp tåi ViŒt Nam hai ñÎa-phÆn : ñÎa phÆn ñàng Ngoài
( còn g†i là B¡c hà )   do ñÙc Giám-møc Francois Pallu Giám-quän Tông-tòa và ñÎa-phÆn ñàng Trong ( Nam hà ) dܧi quyŠn giám-quän cûa ñÙc Cha Lambert De La Motte, lÃy sông Gianh làm ranh-gi§i, theo ÇÎa-dÜ chính-trÎ hiŒn th©i gi»a hai hŒ-thÓng quyŠn-l¿c : Chúa TrÎnh miŠn B¡c và Chúa NguyÍn miŠn Nam. ñÎa-phÆn ñàng  Trong lúc Çó gòm tØ sông Gianh trª vào miŠn ThuÆn-Hóa trên ÇÃt ViŒt, qua phía Nam ÇÃt Chiêm-Thành, sang Cao-Miên ljn Thái-Lan .

          Næm 1665, ñÙc Cha Lambert De La Motte thi‰t lÆp ngay m¶t Chûng-viŒn tåi Juthia trên ÇÃt Thái, dành riêng cho  hàng Giáo-sï ViŒt Nam . CÛng trong næm này ñÙc Cha Pallu giao quyŠn giám-quän Giáo-phÆn ñàng Ngoài cho ñÙc Cha Lambert Ç‹ trª vŠ Âu-châu tìm thêm th® g¥t truyŠn giáo .   Ngày 24 tháng 2 næm 1668, ñÙc Cha Lambert phong chÙc cho hai tân Linh-møc bän xÙ tiên khªi  tåi  B¡c-hà : Cha  BênêÇitô HiŠn và Cha Gioan HuŒ .   M¶t tháng sau cÛng næm Çó, ngày  21  tháng  3  ñÙc  Cha  låi  phong  chÙc cho hai  tân  Linh-møc ñàng Trong là Cha Giu-se Trang và Lu-ca BŠn . BÓn vÎ Linh-møc Viêt ÇÀu tiên này  ÇÜ®c tuy‹n ch†n tØ h¶i ThÀy Giäng, có Çû ÇiŠu-kiŒn và ÇÜ®c Çào-luyŒn m¶t thòi gian tåi   Chûng-viŒn Juthia (Thái Lan ) .

          Ngày 14 tháng 2 næm 1670, ñÙc  Cha  triŒu tÆp  Công-ÇÒng MiŠn ( thÙ nhÃt) tåi xÙ Nam, phong-chÙc cho bäy tân Linh-møc bän xÙ, phân b° các chû chiên, tuy‹n ch†n Chûng-sinh (theo tinh thÀn Công-ÇÒng Tridentino  1545-1563 ) và thi‰t lÆp Dòng M‰n Thánh Giá, ÇÒng th©i ch†n Thánh Giu-se làm Quan ThÀy Giáo-H¶i VN .

         Sáu mÜÖi læm næm sau, næm 1730,  Chûng-viŒn Juthia ÇÜ®c d©i vŠ Chantabun ( Thái-Lan )  Ç©i ñÙc Giám-møc Alexandrô ( 1728-1738 ) .

        Næm 1767, Ç©I ñÙc Giám møc Piguel, Chûng viŒn ÇÜ®c H¶I ThØa sai Paris tåm Ç¥t cÖ sª tåi Hòn ñÃt ( gÀn Råch Giá, thu¶c tÌnh Ki‰n Giang ngày nay ). CÛng trong næm Ãy, Cha Bá ñaL¶c ( Pigneau de Béheine ) ÇÜ®c gªi sang truyŠn giáo tåi ViŒt Nam và làm giáo sÜ Chûng viŒn. Næm 1768, ngài ÇÜ®c ÇŠ cº làm giám ÇÓc.Tháng 12 næm 1769, Chûng viŒn Hòn ñÃt bÎ quân Cao Miên tÃn công thiêu hûy, Linh møc giám ÇÓc và Cha Morvan cùng v§I khoäng 13 chûng sinh phäi r©I khÕi ViŒt Nam sang Malacca, Çoån xuôi vŠ Pondichéry, n¢m trong vÎnh Bengale, Çông nam ƒn ñ¶. Næm  1770, Cha Giám ÇÓc  lÆp m¶t Chûng viŒn tåm th©I tåi Virampatnam    phía b¡c Pondichéry ). M¶t næm sau, Chûng viŒn Çã có  39 Chûng sinh, gÒm 12 ngÜ©I Trung hoa, 21 ngÜ©I ViŒt Nam ( 16 thuôc ñàng Ngoài, 5 thuôc  ñàng Trong ), 4 ngÜ©I Thái lan, m¶t Cao miên và m¶t Mä lai á. Chûng sinh ÇÜ®c chia ra làm 4 ban : thÙ nhÃt là ban ThÀn h†c, ba ban còn låi, h†c ti‰ng La-tinh, Væn chÜÖng và Tôn giáo.

          Næm 1771, ñÙc Giáo Hoàng Clementê XIV b° nhiŒm Cha Bá-Ça-L¶c làm Giám møc phó. CÛng trong næm Ãy, ngày 20 tháng 6, ñÙc Giám møc Piguel lìa trÀn,  Cha tåm quyŠn Giám quän Tông toà, ljn tháng 2 næm 1774, m§I chính thÙc ÇÜ®c tÃn phong  và ngày 12 tháng 3 næm 1775. Ngài m§I vŠ låi Giáo Çoàn ñàn Trong. Th©I Ãy, các Linh møc  cäi trang làm m†I thÙ nghŠ : th® m¶c, th® nŠ, thÀy lan, bán thuÓc cao Ç®n hoàn tán, Çi câu, Çánh cá, lái buôn, thÆm chí Çi h§t tóc dåo, gánh nܧc thuê v.v. . . Ç‹ truyŠn Çåo, làm công tác møc vø và ÇÜ®c s¿ tr® giúp tích c¿c cûa các thÜÖng nhân. Nh»ng nÖi tåm th©I làm Chûng viŒn lúc Çó, ÇŠu nhà tranh vách ÇÃt, nhiŠu khi trên các thÜÖng thuyŠn, thi‰u thÓn Çû m†I thÙ và thÜ©ng næng di Ƕng ( trÓn chåy nÖi này sang nÖi khác vì bÎ cܧp bÓc hay bÎ lŒnh b¡t Çåo truy nã ). ViŒc h†c hành g¥p nhiŠu khó khæn,phÙc tåp, phÀn thì thi‰u døng cø giáo døc, sách vª, t¿ Çi‹n, phÀn låi phäi hÒi h†p lo s® các s¡c dø cÃm Çåo.

          Tháng 3  næm 1776, ñÙc Giám møc ÇÜ®c ñè ÇÓc Hà Tiên,  Måc thiên TÙ       

( còn g†I là Måc thiên Tích, con cûa Måc Cºu ) cÃp cho m¶t khu ÇÃt khá r¶ng tåi cây Quao Ç‹ Ç¥t Toà Giám møc. Ngài cÛng cÃt m¶t Chûng viŒn và tÆp trung các Chûng sinh vŠ Çây tu tÆp, dܧI s¿ hܧng dÅn cûa Cha Morvan. Næm 1778, nhiŠu Çoàn cܧp Cao Miên tràn sang ÇÓt phá Chûng viŒn, gi‰t Chûng sinh, nên Chûng viŒn b¡t bu¶c phäi d©I vŠ Gia ñÎnh.

          Tháng 8 næm 1782, NguyÍn HuŒ kéo quân thûy b¶ nam ti‰n, Çánh Çu°I quân Chúa NguyÍn. NguyÍn phúc Ánh bÎ Çánh bÆt ra khÕi ÇÃt Gia ñÎnh, chåy vè Råch Giá, låi bÎ quân Chân Låp ( Cao Miên ) Çu°I b¡t, phäi bôn Çào ra Çäo Phú quÓc. Giám møc Bá Ça L¶c ÇÜa tÃt cä Chûng sinh sang ÇÃt Cao Miên.

          BÎ thÃt trÆn liên tøc trong mÃy næm liŠn,  binh l¿c cûa Chúa NguyÍn ngày càng suy y‰u, lÜÖng th¿c khô cån dÀn, vì vÆy, Chúa NguyÍn nÄy ra š ÇÎnh ‘’ nh© ngoåi quÓc  y‹m tr® ‘’. Lúc bÃy gi© có nhiŠu thÜÖng gia và nhà truyŠn giáo ngoåi quÓc ljn tØ : Pha lang sa
( Pháp quÓc ), Tây ban nha,  BÒ Çào nha,  Ý Çåi l®i. Trܧc tình hình an ninh bÀt °n ÇÎnh, hÖn n»a nhà Tây SÖn cÃm Çåo quá nghiêm ng¥t,  muÓn cho dÍ dàng trong viŒc mua bán làm æn, nhÃt là vÃn ÇŠ truyŠn giáo, Giáo sï cÛng nhÜ thÜÖng gia Tây phÜÖng b¡t tay ngoåi giao v§I Chúa NguyÍn và hÙa së vÆn Ƕng Chính phû cûa h† tr® giúp cho quân cûa NguyÍn phúc Ánh phøc quÓc. Vì ñÙc Bá Ça L¶c Çang quän nhiŒm Giáo Çoàn ñàn Trong, nên NguyÍn phúc Ánh nh© cÆy cÀu viŒn Pháp quÓc và La mã. NguyÍn phúc Ánh Ûy nhiŒm ñÙc Bá Ça L¶c  làm SÙ giä, trao dÃu Ãn VÜÖng triŠu và Çem Hoàng t» Cänh ( Thái tº NguyÍn phúc Cänh, hÖn 5 tu°I ) theo ÇÍ làm con tin. ñÙc Cha r©i  khÕi ViŒt Nam tØ tháng 2 næm 1785, mãi cho ljn tháng 7 næm 1989m§I trª vŠ låi.  Vì  rÃt nhiŠu khó khæn trª ngåi trên vÃn ÇŠ di chuy‹n cÛnh nhÜ do n¶I tình phÙc tåp cûa nܧc Pháp và Âu Châu lúc bÃy gi©, nên không Çåt ÇÜ®c sª nguyŒn.  Tuy nhiên, nh© vào sÒ tiŠn vÆn Ƕng ÇÜ®c  cûa các gia Çình bà con, bån bè, c†ng thêm s¿ giúp Ç« cûa các th‰ l¿c thÜÖng mãi, ñÙc Cha Çã mua s¡m m¶t sÓ vÛ khí : súng Óng Çån dÜ®c, chi‰n thuyŠn và m¶ thêm binh lính ( trong Çó có m¶t sÓ c¿u quân nhân thiŒn chi‰n ) có th‹ bÒi l¿c cho quân Chúa NguyÍn.

          Tình hình Çã thay ǰI thuÆn l®i.  Quân Chúa NguyÍn Ánh lÀn lÜ®t chi‰m låi miŠn nam, Ç¥t T°ng Hành Dinh tåi Tân TriŠu ( ñÒng Nai ).  ñÙc Cha cÛng ch†n ÇÎa Çi‹m Lái Thiêu làm trung tâm Giáo phÆn, Ç¥t Toà Giám møc  và xây toà nhà Chûng viŒn. 

          Ngày  9 tháng  10 næm 1799, ñÙc Giám møc Bá Ça L¶c ÇÜ®c Chúa g†i vŠ.

          K‹ tØ næm 1802, Vua Gia-Long thÓng nhÃt sÖn hà, tuyên bÓ hûy bÕ các chi‰u dø cÃm ñåo Công giáo, cho phép các Giáo-sï ÇÜ®c t¿ do truyŠn ñåo, xây cÃt Thánh-ÇÜ©ng, và các cÖ-sª bác ái, giáo-døc.  ñ‰n mæm 1805, ñÙc Cha Gioan Labartette
( 1793-1823 ) k‰ vÎ ñÜc Cha Bá-ña-L¶c ( Pigneau De Béheine ).

          K‹ tØ næm 1820, Minh-Mång nÓi nghiŒp Vua,vì  ác cäm v§i ngÜ©i ngoåi quÓc và ñåo Công-giáo nên Vua Çã ra nhiŠu chi‰u dø cÃm ñåo . Næm 1825, Chûng-viŒn Lái-Thiêu Çã phäi d©i  sang Pinang, thu¶c Mã-lai-á . ñ‰n Ç©i Vua ThiŒu-TrÎ ( 1840-1847 ) , ít chú tâm ljn viŒc cÃm cách Çåo giáo nên Giáo-H¶i VN ÇÜ®c tåm th©i yên °n . Trong th©i gian Çó, ñÎa phÆn ñàng Trong dܧi quyŠn cai-quän cûa Thánh Giám-møc Têphanô Cuénot ( Th‹ ) (  1840-1861 - Tº ñåo ). Næm 1841, ñÙc Cha Têphanô Th‹ triŒu tÆp Công-ÇÒng chung toàn Giáo-phÆn, ‡n ÇÎnh các giáo xÙ, mª r¶ng vùng truyŠn giáo lên miŠn Cao-nguyên, tái thi‰t Thánh ÇÜ©ng, chuôc låi nhÜng ngÜ©i còn bÎ giam gi», Ç¥c biŒt chú tr†ng viŒc Çào tåo  giáo-sï bän xÙ, Ngài ch†n nÖi nào thuÆn l®i, lÆp nhà Døc-anh Ç‹ Çào tåo thi‰u niên, tuy‹n ch†n chûng-sinh . Næm 1844, ñÙc  Giám-møc xin Tòa Thánh tách phÀn ÇÃt phía Nam Ç‹ làm Giáo phÆn m§i : Giáo phÆn Tây ñàng Trong ( tÙc Sàigon hiŒn nay ) Ç¥t dܧi quyŠn chæm sóc cûa ñÙc Cha ñamianô Lefèbre ( Ngãi ) .  Næm 1850, tách phÀn ÇÃt Cao-Miên làm Giáo -phÆn Nam-Vang  . PhÀn còn låi ( ñÎa phÆn cÛ ) g†i là ñông ñàng Trong gÒm lãnh th° tØ sông Gianh ljn Phan-Thi‰t . Tòa  Giám-møc Ç¥t tåi Nܧc M¥n ( GòThÎ ). Vùng  Nܧc M¥n còn g†i  là ThÎ-Nåi là vùng ÇÒng-b¢ng Çông dân trù phú,n¢m doc theo ÇÀm ThÎ-nåi, chåy dài tØ chân núi TriŠn-châu, Phú-cát       ( C»a Cách-Thº ) ljn tÆn c»a khÄu Qui-nhÖn thông ra bi‹n Nam Häi . ThÎ Nåi là ÇÃt cûa Chiêm-Thành khi xÜa, có tên là Criny Banay, ÇÜ®c phiên âm thành ThÎ-l®i BÌ-nåi, g†i t¡t làThÎ-Nåi . Gò-ThÎ ( Nܧc M¥n ) khi Çó là nÖi rÃt Çông Çúc tín-h»u công-giáo . CÛng cÀn nh¡c låi r¢ng tØ khi chia hai ñÎa phÆn ñông và Tây ñàng Trong, Chûng-viŒn  Pi-Næng  tr¿c thu¶c  vŠ Saigon, nhÜng Giáo phân Qui-nhÖn vÅn còn gªi ÇÜ®c chûng-sinh vào tu-tÆp .

          K‹ tØ 1848, Vua T¿-ñÙc cÃm ñåo ráo ri‰t g¡t gao, công viŒc truyên bá Phúc Âm cÛng nhÜ sinh-hoåt Tôn giáo ÇÀy khó khæn trª ngåi , th©i gian này Çã trª thành m¶t ‘ Th©i tº nån ‘ v§i  chu‡i ngày Çau thÜÖng  nhÃt cho  Giáo H¶i  VN   nói  chung  và  Giáo phÆn  ñông  ñàng  Trong ( Quinhon) nói riêng . ñÃt Çai, vÜ©n tÜ®c, nhà c»a, súc vÆt, mùa màng cûa ngÜ©i công-giáo, tÃt cä ÇŠu bÎ chi‰m-Çoåt . NgÜ©i công-giáo tØng nghìn, tØng vån phäi kéo nhau chåy trÓn lên rØng sâu ho¥c  chui rúc dܧi các hÀm thuyŠn lênh-Çênh ngoài bi‹n khÖi, m¶t sÓ Çông bÎ b¡t b§ tù Çày, chÎu gông cùm xiŠng xích, sau cùng chÎu ch‰t ( xº læng-trì, xº bá Çao, chôn sÓng, thiêu sinh  .  .  ) vì  ñåo Thánh Chúa . Máu Tº-ñåo chäy nhiŠu nhÃt trong Nam cÛng  nhÜ  ngoài B¡c  trong th©i gian này . ñÜc Giám-møc Têphanô Cuénot ( Th‹ ) chÎu Tº ñåo  næm 1861 . Tòa Giám-møc Qui-NhÖn bÎ trÓng ngôi trong ba næm, ljn 1864 ñÙc Cha Charbonier ( Trí - 1864-1878 ) k‰ vÎ ñÙc Thánh Giám-møc Th‹,  ÇÜ®c m¶t tàu Pháp ÇÜa ljn Qui-nhon ( LÎch-sû Giáo-H¶i VN cûa LM Bùi-ÇÙc-Sinh OP. trang 364 ).

          Chi‰n tranh ViŒt-Pháp  ÇÜa  t§i  Hòa-ܧc  Nhâm-tuât ( 5-6-1862 ), b¡t bu¶c T¿-ñÙc phäi  chÃm dÙt cu¶c bách håi công-giáo .  Lúc  bÃy gi© giáo dân løc-tøc trª vê làng quê cûa mÌnh. Nh»ng giáo-sï sÓng sót trª vŠ nhiŒm sª cÛ cùng con chiên, tái thi‰t giáo xÙ, lÆp låi cu¶c sÓng .

         Trª låi vÃn ÇŠ : Chûng-viŒn Làng-sông Qui-nhÖn ÇÜ®c  thành lâp  næm 1863   ( ܧc Çoán cæn cÙ theo bän thông-tin  Giáo-phÆn  Qui-nhon &- ñà-N¤ng tháng 4 - 1964, nhÜ Çã nêu ª dÀu bài ) ,thì næm 1863 ñÎa phÆn ñông ñàng Trong ( Quinhon) chÜa có Giám-møc cai-quän chính-thÙc  ( ñÙc Cha Th‹ tº Çåo næm 1861 - ñÙc Cha Trí  næm 1864 m§i ljn nhÆm sª ) . Tuy nhiên, ch¡c  ch¡n là phäi có m¶t Linh-møc BŠ-trên giám-quän ( chÜa có tài liŒu nào cø th‹ ).  Có th‹ phÕng ÇÎnh r¢ng : Th©i gian mà các Giáo phÆn ÇÜ®c yên tÎnh, ÇŠu phäi  cÓ g¡ng  tái  lÆp  sinh  hoåt, tái  thi‰t giáo -xÙ, xây d¿ng cÖ sª, chûng-viŒn  .  . và nhÜ vÆy Giáo-phÆn ñông ñàng Trong cÛng phäi trên Çà phát tri‹n d¿a theo lÜ®c ÇÒ cûa Thánh Giám-møc Têphanô ThŠ Ç‹ låi .

        Næm 1883 Vua T¿-ñÙc ch‰t, TriŠu-Çình rÓi ren, phäi kš Hòa-ܧc 1883, rÒi 1884  công nhÆn quyŠn bäo-h¶ cûa nܧc Pháp . NhÜng ljn næm sau, 1885, phong-trào Væn Thân n°i  lên, kéo nhau Çi quÃy phá các làng có ngÜ©i   công-giáo, tái  diÍn cu¶c bách  håi tàn  båo  hÖn  trܧc . Tåi ñÎa phÆn ñông ñàng Trong, ñÙc  Cha Van Camelbeke ( Hân -1884-1901) phäi  chÙng  ki‰n  nh»ng  cu¶c bách håi khûng khi‰p nhÃt  cûa Væn Thân :  8 Linh-møc ThØa sai,  5  Linh-møc ViŒt, 60 ThÀy Giäng, 170 N» tu và trên 25 ngàn tín-h»u bÎ sát håi, trên 200 Thánh ÇÜ©ng và nhà nguyŒn, cô-nhi-viên, Tu-viên ÇŠu bÎ thiêu hûy . TØ næm 1888, nån Væn Thân ÇÜ®c dËp yên, Giáo H¶i VN, các Giáo phÆn ÇÜ®c trª låi th©i an-bình, cÓ g¡ng xúc ti‰n công viŒc cûng-cÓ ñÙc Tin, ki‰n thi‰t giáo xÙ và xây d¿ng các cÖ-sª . M¶t tài liŒu cûa tòa Giám-møc Qui-nhÖn ghi nhÆn r¢ng :  Sau Væn Thân, Tòa Giám-møc và cÖ sª Nhà Chung ÇÜ®c xây d¿ng  låi  næm  1891, Ti‹u Chûng-viŒn  Làng-Sông ÇÜ®c xây  cÃt næm 1892 và ñåi Chûng-viŒn ñåi- An næm 1893 .

        Danh hiŒu Ti‹u Chûng-viŒn Làng-Sông Çä nói rõ ÇÎa di‹m t†a lac . Tài  liŒu còn cho bi‰t Ti‹u Chûng-viŒn n¢m k‰ cÆn khuôn viên Tòa Giám-møc, nhÜ vÆy kh£ng ÇÎnh ÇÜ®c r¢ng : Tòa Giám-møc và cÖ sª Nhà Chung cÛng ÇŠu n¢m tåi khu v¿c Làng-Sông . Còn N» Tu-viên M‰n Thánh Giá, cô-nhi-viŒn vÅn tåi giáo-phû cÛ Gò-ThÎ . K‹ tØ Ç©i ñÙc Cha Hân ( Camelbeke) Chûng-viŒn ÇÜ®c chính thÙc  °n ÇÎnh cÖ sª. Chûng-viŒn  chia  ra  làm  hai  cÃp : CÃp nhÕ là Ti‹u Chûng-viŒn tåi Làng-Sông ( Xã Phܧc-ThuÆn,  Tuy-Phܧc ), nÖi Çào tåo ti‹u Chûng-sinh ( g†i là Chú ) vŠ phÜÖng-diŒn ÇÙc-døc, trí-døc và th‹-døc, nhÃt là trau dÒi vŠ sinh-ng» La-tinh .                             CÃp l§n, Çåi Chûng-sinh ( hay ThÀy ) tåi ñåi Chûng-viŒn  ñåi-An (  xä Cát NhÖn, Phù-Cát ) tu-tÆp vŠ Tri‰t h†c, ThÀn h†c  .  .  .  Trܧc khi có ñåi Chûng-viŒn, Chûng-sinh phäi gªi sang h†c tai Chûng-viŒn Pinang .

        K‰ vΠ ñÙc Cha Hân là ñÜc Giám-møc Damianô Grangeon ( MÅn- 1902-1930). Ngài chú tr†ng ljn công trình ki‰n trúc Çúng  nghïa  các cÖ  sª cûa  Giáo phÆn  mà trܧc Çó, ñÙc  cÓ Giám-møc tiŠn nhiŒm m§i chÌ tåm th©i thi‰t låp . Næm 1904, ñÙc   Cha gªi  Cha Maheu ( CÓ MÏ ) sang HÒng-Kông nghiên cÙu nhà In Nazareth rÒi vŠ thi‰t lÆp m¶t nhà in tai Làng-Sông Ç‹ in sách Kinh, sách Giáo-lš, sách giáo-døc, thÜ chung møc-vø, thông cáo cûa Tòa Giám-møc, bän Thông tin cûa Giáo-phÆn              ( Mémorial ) .  .  Næm 1925, ñÙc Cha cho xây cÃt låi Ti‹u Chûng-viŒn gÒm hai gian nhà gåch,l®p ngói, dài, có tÀng lÀu, thay th‰ 4 dãy nhà tranh cÛ . Công viŒc xây cÃt trong vòng  hai  næm  và  ngày  21  tháng  9  næm  1927, LÍ Khánh-thành Tân Chûng-  viŒn ( nhÜ Çã ÇŠ cÆp nÖi phÀn ÇÀu ). Mémorial  ñÎa phÆn    næm  Çó  ghi  nhÆn  là do công khó  cûa Cha Gagnaire ( CÓ ñÎnh ), Giám-ÇÓc Chûng-viên ÇÒng th©i  cÛng là phó BŠ trên  ñÎa -phÆn ( Vice-Provicaire ) . Ki‰n-trúc-sÜ là Cha D' Orgeville
( CÓ SÏ ) và quän ÇÓc xây cÃt là ThÀy Hòa ( H¶i ThÀy Giäng ) .

        Trܧc kia, tuy‹n sinh ÇÜ®c thu nhÆn vào tu tÆp tåi Ti‹u Chûng-viŒn, cÙ  ba  ho¥c hai næm  m¶t Ç®t, nhÜng  tØ khi  Chûng-viŒn có cÖ-ngÖi  r¶ng  l§n, tiŒn-nghi, b¡t ÇÀu tØ næm 1930 (?) m‡i næm ÇŠu có nhÆn m¶t l§p m§i ,  sï  sÓ m‡i l§p  cÛng  càng Çông hÖn . Ti‹u Chûng-viên  gòm có 8 l§p, tính tØ l§p Tám ljn l§p nhÃt . Các l§p  8+7 và 6, g†i  là chú nhÕ,sº døng cæn lÀu phía Tây . TØ l§p 5 ljn l§p nhÃt, goi là chú l§n, sº døng  cæn  nhà phía  ñông . M‡i  bên ÇŠu có phòng  ngû, phòng h†c ( riêng cho tØng l§p ), nhà chÖi, sân chÖi, nhà vŒ sinh riêng ,sinh hoåt riêng,  còn Nhà Th© ( džc kinh, xem LÍ, chÀu Thánh Th‹)  và  giäng-ÇÜ©ng   chung .  Vì  trên  ñåi  Chûng-viŒn, tÃt cä sách h†c vŠ Tri‰t-h†c và ThÀn-h†c ÇŠu b¢ng ti‰ng La-tinh, nên b¡t ÇÀu tØ l§p 6 Çã phäi chuyên h†c vŠ La ng» . Giám-ÇÓc Ti‹u Chûng-viŒn còn g†i là Cha BŠ-trên, th©i trܧc ÇŠu làcác Cha Pháp : Cha Gagnaire  ( CÓ ñÎnh ), ljn Cha Guillaume ( CÓ Yên ), sau là Cha Joseph Clause ( CÓ HÒng ) .  Giáó sÜ các l§p gòm vài Cha Tây và Ça phân là các Cha ViŒt. Ngoài ra còn có ba Thây, m¶t giám-thÎ cho chú lón, m¶t giám-thÎ cho chú nhÕ và m¶t làm phø-giáo ( Ba ThÀy này ÇÜ®c tuy‹n ch†n trong  sÓ các ThÀy mãn Tri‰t-lš và ra Çi giúp xÙ, th¿c tÆp trong 2 næm ).

          ñ‰n Ç©i ñÙc Cha Augustin Tardieu ( Phú, 1930-1942 ), Tòa Giám-møc låi ÇÜ®c ÇÜa vŠ Qui-nhÖn . Qui-nhÖn, trܧc næm 1900, chÌ là m¶t däi dãi phù sa, có m¶t sÓ ngÜ-phû cÜ ngø g†i là làng Chánh-thành . Vì lúc bÃy gi© chÜa có phÜÖng tiŒn giao thông, chi  có ÇÜ©ng thûy là thuÆn l®i, Qui-nhÖn có c»a khÄu thông ra bi‹n, có ÇÀm ThÎ-nåi   nên ghe thuyŠn buôn bán  tiŒn l®i  tÃp nÆp, các thÜÖng gia Hoa-kiŠu ( Trung-Hoa ) Çã bi‰n thành thÜÖng-khÄu Ç‹ hành  nghŠ thÜÖng  måi . B¡t ÇÀu Th‰-k› 20,  bãi cát Chánh-Thành hóa ra m¶t thÜÖng-khÄu phÒn thÎnh, ngÜ©i dân tÃp nÆp ljn cÜ ngø buôn bán làm æn, do vây mà có danh tØ Qui nhÖn    ( Theo chÛ Hán : Qui là vŠ còn NhÖn là ngÜÖi ),và tØ Çó bi‰n thành ÇÎa danh  cho  khu trù phú m§i . Sau Çó, Chính-quyŠn  Bäo-h¶ Pháp thi‰t lÆp cÖ sª  cûa  tòa Khâm-sÙ và các  cÖ quan tr¿c thu¶c .  Næm 1925, Chính quyŠn Nam triŠu TÌnh Bình-ñÎnh  ( T°ng-ÇÓc, BÓ-chính, Án-sát, Lãnh-binh ,ÇÒn KhÓ Xanh, Lao-xá  .  .  ).  cÛng  d©i  cä vŠ Qui nhÖn . Trong báo cáo thÜ©ng  niên  vŠ Tòa Thánh  næm 1931, ñÙc Cha Phú (Tardieu)  ghi  nhÆn r¢ng : ‘’Chúng tôi  thi‰t nghï  Giáo phÆn Qui-nhÖn  r¶ng  l§n,  m¶t ngày nào Çó së chia  thành  ba  hay  bÓn Giáo-phÆn và b«i vì  vÎ trí  trung  tâm  nên Chûng-viŒn tåi    Qui-nhÖn  trong  tÜÖng  lai   së là m¶t   Chûng-viŒn MiŠn  ‘’ . CuÓi  tháng  6  næm  1933  dÎp  khánh-thành  tòa nhà  ñåi  Chûng-viŒn, Çã t° chÙc LÍ phong chÙc cho khóa  tân  Linh-møc  tåi  nhà  nguyŒn ñåi Chûng-viŒn ( lÀn ÇÀu tiên ) cho các Cha TrÎnh-hoài-Ân, NguyÍn-Bàng, NguyÍn-thanh-Long, Châu-PhÆn và DÜÖng-tÃn-Quá. Lúc Çó Tòa Giám-møc m§i ÇÜ®c khai móng, còn nhà th© Chính tòa Qui-nhÖn quá nhÕ và ljn næm 1939, nhà th© Chính Tòa xây cÃt låi mÖi ÇÜÖc hoàn thành . Ti‹u Chûng-viŒn vÅn n¢m  tåi Làng-Sông .

          Ngày 9 tháng 3 næm 1945, NhÆt Çäo chính Pháp . TÃt cä Linh møc  thØa  sai  ngÜ©i  Pháp,  k‹ cä ñÙc Giám-møc ÇÜÖng nhiŒm, ñÜc Cha Michel Piquet ( L®i ) ÇŠu  bΠ tÆp  trung  ÇÜa vào Nha-Trang . Giám-ÇÓc Chûng-viên ÇÜ®c bàn giao  lai  cho  Linh-møc  DÜÖng-tÃn-Quá. Tháng 8 næm Çó ViŒt minh cܧp chính quyŠn , quân-Ƕi  Pháp  ÇÜ®c  tái  võ-trang   xâm lÜ®c .  Næm 1946, lŒnh toàn quÓc kháng chi‰n  ( chi‰n tranh ViŒt-Pháp ),Thành phÓ Qui-nhÖn bÎ b¡t bu¶c phäi  di  tän Ç‹ tiêu th° .             ñai  Chûng-viŒn phäi  dòi vŠ Làng-Sông .  Cæn  nhà phía Tây  cûa chú nhÕ ÇÜ®c dành m¶t nºa Ç‹ nhÜ©ng cho các ThÀy sº døng . M¶t sÓ chú nhÕ ª các Tinh Khánh-Hòa, Phan-Rang, Quäng-Nam vŠ nghÌ Hè, bÎ kËt không th‹ vŠ h†c . Quân Ƕi Pháp chi‰m låi vùng Saigon và các vùng Nha-Trang, ñà-N¤ng . ñÜc Cha L®i giám quän nh»ng vùng Pháp Çã chi‰m Çóng . Còn tÜ cÀu Bà-Rén ( Quäng-Nam)  vào ljn Tuy-Hòa ( PhúYên )  do  chính  quyŠn ViŒt Minh c†ng-sän ki‹m soát, goi là Liên-khu V . Tòa Thánh Ç¥t Cha ñ¥ng-quyŠn-Huy Giám quän Tông Tòa

          Næm 1946 ñÙc Cha Piquet ( L®i ) mÜ®n trÜ©ng h†c TÃn-Tài  thu¶c Giáo xÙ Dinh-Thûy, Phan-Rang Ç‹ làm Ti‹u  Chûng-viŒn  tåm th©i  cho các Chûng  sinh  ª vùng QuÓc Gia ki‹m soát  vào ti‰p tøc h†c và tuy‹n thêm l§p m§i . Riêng Chûng viŒn Làng Sông, m¥c dù bÎ Çinh trŒ vài tháng, nhÜng cÛng ti‰p tøc mª c»a dón nhÆn Chûng sinh vào h†c . Cho ljn ÇÀu næm  1952, Chûng viŒn hoàn toàn bÎ Çóng c»a . Nh»ng  næm sau Çó, sÓ Ti‹u Chûng  sinh bΠ kËt trong vùng  Liên khu V (ViŒt Minh ki‹m soát ) trܧc Çây ( 1950 ), m¶t sÓ trÓn thoát ÇÜ®c vào Nha-Trang , m¶t ít ÇÜ®c DÙc Cha thu nhÆn cho ti‰p tøc tu-trình Linh møc; sÓ n»a trª vŠ cu¶c sÓng gia Çình . HÀu h‰t sÓ Chûng sinh bÎ kËt ª vùng ViŒt Minh không  trÓn Çi ÇÜ®c ÇŠu nän lòng ch© Ç®i và hòa mình vào cu¶c Ç©i trÀn tøc .

          Næm 1954, HiŒp ÇÎnh Genèves chia Çôi ÇÃt nܧc, tØ sông Bên Häi, vï tuy‰n 17 trª vào thu¶c Chính quyŠn QuÓc-gia, nhÜng mãi ljn tháng 5-1955 b¶ Ƕi ViŒt Minh m§i triŒt thoái h‰t .

          Tháng 9-1955 Ti‹u Chûng viŒn Làng sông mª c»a trª låi, nhÜng Chûng sinh cÛ không còn n»a, thu nhÆn lÖp h†c sinh m§i , g†i là L§p NhÃt  (Supérieur) chuÄn bÎ cuÓi  næm thi b¢ng Ti‹u h†c . ( Còn m¶t ít ThÀy vào trình diŒn ñÜc Giám-møc ñÎa phÆn, nhÜng bÎ ñÙc Cha tØ chÓi, chÌ có hai ThÀy kiên nhÅn dã ÇÜ®c DÙc Cha Phåm-ng†c-Chi g†i låi và Çã lãnh chÙc Linh møc là Cha NguyÍn-quang-Báu và Cha NguyÍn-thanh-HuŒ (ThÃt)). Th©i gian này Ti‹u Chûng viŒn TÃn Tài vÅn còn ÇÜ®c duy trì và Çã ÇÜ®c d©i vŠ Nha-Trang .

           K‹ tØ niên khóa 1956 , TiŠu  Chûng  viŒn  chÌ   còn  h†c  có 7 næm theo chÜÖng trình cûa B¶ QuÓc-gia giáo-døc VNCH .  H†c- sinh ÇÜ®c tuy‹n vào sau khi Çã có b¢ng Ti‹u h†c , và b¡t ÇÀu tØ l§p ÇŒ thÃt ( ÇŒ løc, ÇŒ ngÛ, ÇŒ tÙ, thu¶c Trung h†c ÇŒ nhÃt cÃp ) , sau Çó lên ÇŒ tam, ÇŒ nhÎ và ÇŒ nhÃt ( Trung h†c ÇŒ nhÎ cÃp)  . ñÀu tiên Cha Hoàng (Quàng ngãi ) làm Giám ÇÓc (1955-56), ljn Cha NguyÍn-công-NghÎ ( 56-58 ), rÒi ljn Cha  Huÿnh-væn-Hóa ( 58-60 ); sau Çó Cha Võ-ng†c-Nhã (60-62) rÒi Cha Huÿnh-kim-Læng (1962 - )      .                                                                                                                        Tháng 7 næm 1957, Tòa Thánh chia thêm DÎa phÆn  m§i  Nha-Trang  gÒm   hai   TÌnh Khánh Hòa và  Ninh Thuân,và ñÙc Giám møc Piquet (L®i) giám quän .Giáo phÆn Qui NhÖn còn lai 5 Tinh (Quäng Nam, Quäng Tín, Quäng Ngãi, Bình ñÎnh và Phú Yên) Ç¥t dܧi quyŠn cai quän cûa ñÙc Giám-møc  Phåm-ng†c-Chi .

         M¶t bi‰n cÓ quan  tr†ng  sau  4 th‰-k› truyŠn giáo VN  là ngày 21 tháng 12 næm 1960 ,ñÙc ThánhCha Gioan XXIII qua Tông chi‰u Venerabilium nostrorum, thi‰t lÆp PhÄm TrÆt H¶i Thánh tåi ViŒt Nam. Tháng 1 næm 1963, hai TÌnh Quäng Tín, Quäng Nam và Thành phÓ ñà N¤ng ÇÜ®c tách ra Ç‹ lÆp Giáo phÆn m§i mang tên ñà N¤ng , trách nhiŒm chæn d¡t giao cho ñÙc Cha Pham-ng†c-Chi . Giáo phÆn Qui NhÖn chÌ còn låi 3 TÌnh Quäng Ngãi Bình ñÎnh và Phú Yên ÇÜ®c ñÙc Cha          Daminh Hoàng-væn-ñoàn Çäm trách . 

          Tháng 11 næm 1963, Quân Ƕi do Tܧng DÜÖng-væn-Minh cÀm ÇÀu làm cu¶c Çào chánh lÆt ǰ TÕng ThÓng Ngô-Çình-DiŒm . TØ nh»ng tháng cuÓi næm 1963 và ÇÀu næm 1964,  tình hình chính trÎ trong nܧc bÎ xáo tr¶n do nh»ng vø chÌnh lš, Çäo chính và nh»ng cu¶c xuÓng ÇÜ©ng cûa các  l¿c lÜ®ng chÓng ÇÓi,  nhÃt là nhóm ƒn-quang . Tình hình an-ninh lãnh th° do vÆy trª nên trÀm tr†ng, c†ng quân miŠn B¡c xâm nhÆp liên k‰t v§i du kích cûa cái g†i là M¥t trÆn Dân t¶c Giäi phóng MiŠn nam, xâm lÃn chi‰m cÙ m¶t sÓvùng nông thôn . Dân chúng thôn quê mÃt an ninh phäi di  tän vŠ  các  QuÆn lœ  và ThÎ xã.  Niên khóa 1964 Ti‹u Chûng viŒn phäi r©i Làng sông , vì cÖ sª trÜ©ng Bình L ®i  quá nhÕ không Çû ch‡ dung nåp  nên các l§p nhÕ (ÇŒ nhÃt cÃp) còn tåm thòi n¢m låi Làng sông th©i gian.    Còn các l§p l§n ( ÇŒ nhÎ cÃp ) d†n vŠ Qui NhÖn,Ç¥t tåi trÜ©ng Bình L¶i   La San  cånh  Nhà th© Chính tòa . .  TrÜ©ng  Dòng  La San d†n vŠ tai  cÖ sÖ  ñåi  Chûng viŒn  Qui-Häi . T rong   th©i  gian  Chûng  viŒn  chia Çôi  h†c  sinh , Cha  Huÿnh-kim-Læng vŠ Qui-nhÖn, Cha NguyÍn-thanh-Bình  tåm  th©i  làm BŠ trên Ti‹u Chûng viŒn tåi Làng sông . Cha Quàng lš ñÎa phÆn (NguyÍn-SÒ)  Çã  cho  tåm d¿ng lên thêm nh»ng láng tråi vách g‡ ván ép, mái  tôle , làm nhà nguyŒn , nhà cÖm , nhà chÖi , phòng h†c .  .   ñ‰n næm sau, tÃt cà  Ti‹u Chûng sinh  ÇŠu ÇÜ®c  tÆp  trung  cä vŠ Qui-nhÖn ..TØ Çó Ti‹u Chûng viŒn không còn mang danh xÜng là Làng-sông n»a,  mà danh hiŒu m§i  ‘’ Chûng viŒn Qui-nhÖn  ‘’ . Riêng cÖ sª  Làng Sông  không còn  là nÖi  lÜu h†c cho Ti‹u Chûng  sinh n»a . CuÓi   næm 1964, b¶ Ƕi B¡c ViŒt Ƕt phá b¡n bazôka  vào  làm sÆp mÃt cÀu thang phía tây và hÜ håi  m¶t sÓ cÜã nhÜng may m¡n không có thÜÖng vong  vŠ nhân mång . ( ñ‰n næm 1970,   Làng sông bÎ ViŒt c†ng  Ƕt nhÆp m¶t lÀn n»a làm hÜ håi khá næng gian nhà phía Çông . )

-. Næm 1966 Cha Læng xin tØ nhiŒm Giám ÇÓc vì  lš do sÙc khÕe, Cha TrÎnh-hoài-Ân tåm gi» chÙc Giám-ÇÓc Chûng viŒn Ç®i  Cha Huÿnh-Çông-Các du h†c ª Hoa-Kÿ trª vŠ . Cha Læng vÅn còn danh nghïa HiŒu trܪng . Næm 1967,  Cha Huÿnh-Çông-Các ÇÜ®c b° nhiŒm làm Giám ÇÓc Chûng viŒn Qui-nhÖn .K‹ tØ 1967, Chûng viŒn låi phäi thay ǰi thÙ t¿ l§p h†c theo chû trÜÖng m§i cûa  B¶ QuÓc gia giáo-døc ÇŒ nhÎ C†ng Hòa , nghïa là l§p ÇŒ thÃt trª thành l§p 6 và tính lên cho ljn l§p 12 .(ÇŒ nhÃt cÛ)

          Næm 1868, Cha giám ÇÓc Huÿnh-Çông-Các khªi công ki‰n thi‰t låi Chûng viŒn . LÜ®c ÇÒ ki‰n trúc do ThÀy Dòng ñÒng Công vë. Kinh phí xây cÃt do ñÙc Giám-møc Hòang-væn-ñoàn tài tr® m¶t phÀn, phÀn còn låi do Cha Huÿnh-Çông-Các vÆn Ƕng ª các ân nhân . Công trình xây d¿ng  Çã ÇÜ®c hoàn thành vào næm 1972 . CÖ sª gÒm có : tÀng trŒt và ba tÀng lÀu, tiŒn nghi ÇÀy Çû.  Dï nhiên, Çây là Trung tâm Çào tåo Chûng sinh, nhÜng còn ÇÜ®c sº døng nhÜ m¶t Trung tâm møc vø trong nh»ng kÿ Hè . Tåi Çây Çã mª nh»ng khóa Çào tåo giáo viên các trÜ©ng công lÆp v§i s¿ bäo tr® cûa ViŒn ñåi h†c Công giáo ñà Låt; Giäng viên là các giáo sÜ trÜ©ng Cao Ç£ng SÜ phåm Qui-nhÖn . M‡i næm giáo sinh ÇÜ®c tu nghiŒp m¶t môn chính nhÜ QuÓc væn, Toán và m¶t môn phø .  TÃt cä Çã ÇÜ®c  5 khóa, khóa Hè 1974  là khóa sau cùng . 

          CÛng trong giai Çoån này,vì cÖ sª ñåi  Chûng  viŒn  giao  cho các Thày Dòng La-San xº døng nên chûng sinh sau khi mãn Ti‹u Chûng viŒn phäi ra giúp xÙ, th¿c tÆp 2 næm trܧc Çã,  sau Çó m§i vŠ ñåi Chûng viŒn vào  Tri‰t h†c ( trܧc Çó vào ñåi Chûng viŒn h†c xong 2 næm Tri‰t  rÒi m§i ra th¿c tÆp) . SÓ các ThÀy vŠ ThÀn h†c ÇÜ®c gªi ljn các ñåi Chûng viŒn  Giáo Hoàng H†c viên Dà-Låt, ho¥c ñCV Xuân Bích  ( Hué ) hay Chûng viŒn Hòa Bình ñà-N¤ng  ( chi nhánh cûa Xuân Bích).

        Næm 1972, các ThÀy Dòng c° tr¡ng Lasan d†n cä vŠ Nha Trang  trao trä ñåi Chûng viŒn låi cho Giáo phÆn, ñÙc Cha  Hoàng-væn-ñoàn  dùng    cÖ  sª  này  thi‰t  lÆp  m¶t  trÜ©ng  Trung h†c:  công-giáo :’ TrÜ©ng Vi Nhân ‘  . Cha  Huÿnh-kim-Læng ÇÜ®c ÇŠ cº làm Giám ÇÓc kiêm HiŒu trܪng .

        Næm 1974, Cha Huÿnh-Çông-Các ÇÜ®c Tòa Thánh tråch cº làm Giám-møc Giáo phÆn Qui-nhÖn,  Giám ÇÓc Ti‹u Chûng viŒn ÇÜ®c giao cho Cha Huÿnh Tòa .

      CuÓi tháng 4 næm 1975, C†ng sän miŠn B¡c thôn tính cä miŠn Nam, Chính th‹ ViŒt Nam C¶ng Hòa bÎ søp ǰ . Chûng viŒn vì vÆy mà cho nghÌ  hè s§m . VÖi  chính  sách  cûa  c†ng  sän , tài sän cûa Giáo phÆn bÎ chi‰m Çoåt . Vì   tài    chánh  bΠ kiŒt quŒ, næm h†c 1975 , Ti‹u Chûng viŒn  tuy có mª c»a, nhÜng chÌ nhÆn có 2 l§p ( 11 và 12 ).  Ti‰p sau Çó,  Cha   Tòa   Çi  theo  di  tän ra nܧc ngoài, Cha Huÿnh-Çæc-Nhì ÇÜ®c ñÙc Cha chÌ ÇÎnh làm Giám ÇÓc thay th‰ .

       Næm 1976, l§p 12 mãn, chÌ còn có l§p 11 lên 12 , Ñy ban Nhân dân TÌnh Bình ñÎnh yêu cÀu ñÙc Giám-møc cho chính quyŠn mÜ®n cÖ sª Chûng viŒn Qui-nhÖn Ç‹ làm ‘ Cung Thanh-niên ;  cûa TÌnh, ñÙc Cha Phao Lô không ÇÒng š vì  tòa  nhà t†a-låc  sát cånh  nhà  th© Chính Tòa,  s¿ Òn ào không thích h®p v§I  s¿ tôn nghiêm cûa Thánh ÇÜ©ng .

        ñ‰n niên khóa næm 1977,  hai  l§p  sau cùng  cûa  Ti‹u  Chûng  viŒn  cÛng Çã  mãn chÜÖng trinh. Tuy vÆy phäi  ª låi  tåi Çó Ç‹ gi» gìn cÖ sª .  K‹ tØ Çó, Ti‹u  Chûng viên Qui-nhÖn không còn chûng sinh n»a . Các ñåi Chûng viŒn  Xuân Bích, ñà Låt, Hòa Bình cÛng lâm vào cänh phäi  Çóng c»a . Các ThÀy ÇÜ®c gªi Çi h†c các nÖi Çóm, phäi trª vŠ låi Giáo phÆn . Lúc bÃy gi© tåm  th©i chia ra làm 3 ÇÎa Çi‹m tu tÆp : M¶t sÓ ( l§p l§n) ª tåi ñCV Qui-häi do Cha Nguy‹n Soån làm Giám-ÇÓc, M¶t sÓ (l§p nhÕ hÖn) vŠ låi Làng sông do Cha Huÿnh-thanh-KhÜÖng giám quän, m¶t sÓ vào tåi Long-mÏ vÖi Cha NguyÍn-tri-PhÜÖng ,Còn låi hai l§p nhÕ nhÃt m§i vào ThÀy vÅn ª nguyên tai cÖ sª Ti‹û Chûng viŒn v§i Cha Huÿnh-Ç¡c-Nhì . M‡i nÖi ÇŠu  vØa h†c vØa  phài  t¿  l¿c  cánh  sinh : Làng sông làm Çia cá, Long MÏ (Phú Tài) lo canh tác, còn nhóm Qui nhÖn lúc ÇÀu chåy xe ba gác, nhÜng sau Çó bÎ Chính quyŠn cÃm Çoán phäi xoay qua làm ru¶ng muÓi . v . v . .

          CÛng có mÃy ThÀy ÇÜ®c ra giúp xÙ tåi Phú Yên và Quäng Ngãi . Kéo dài ÇÜ®c m¶t th©i gian, NhiŠu l§p Çã h†c h‰t chÜÖng -trÌnh ñåi  Chûng viŒn,  nhÜng  nhà  nܧc  c†ng sän không cho ÇÜ®c phong chÙc . Næm 1980 ,chính phû chÌ cho m‡i MiŠn có hai Chûng viŒn, Giáo TÌnh MiŠn Trung chÌ có Hué và Nha Trang m§i dÜ®c có Chûng viŒn .Cæn cÙ theo Çó, næm 1983, Tô-Çình-CÖ, chû tÎch tÌnh Bình-ÇÎnh ra lŒnh dËp bÕ Chûng viŒn tåi Qui NhÖn, và nhÜ vÆy cä ñåi lÅn Ti‹u Chûng viên ÇŠu bÎ giäi th‹ . 

          Ai cÛng bi‰t, Chûng viŒn Qui-nhÖn là công  trình  ki‰n  tåo  cûa  ñÙc  cÓ Giám-møc  Phao Lô Huÿnh-Çông-Các . VÆn Ƕng  tiŠn båc Ç‹ Çû xây cÃt Çã là m¶t viŒc l§n lao, song bäo quän, nhÃt là gi» ÇÜ®c không bÎ quÓc -h»u  hóa   là viŒc  còn  khó  khæn  hÖn . Trong  mÃy næm nay, Chûng viŒnQui-nhÖn là nÖi dØng chân cho nhÛng Çoàn hành hÜÖng ho¥c Çi vi‰ng m¶ Thánh NguyÍn-kim-Thông  tåi Gò-ThÎ, hoæc Çi vi‰ng ÇŠn th© ñÙc Thánh Giám-møc Têphanô Th‹ ª Vinh-Thånh ,ho¥c Çi vi‰ng  Linh ÇÎa ñÙc MË Trà-KiŒu hay Thánh-ÇÎa  ñÙc  MË La-Vang .   ChÜa  nói  ljn  nÖi  Çó còn là ch‡  lÜu trú cho  các Linh møc toàn Giáo phÆn h¢ng tháng vŠ tïnh tâm và h¢ng næm vŠ cÃm phòng .

         Tháng 8 næm 1999, tåi nÖi Çây Çã diÍn ra 2 cu¶c LÍ l§n  nhÃt  cûa Giáo phÆn  :  Ngày 11  LÍ  MØng Ngân Khánh Giám-møc cûa ñÙc Cha Phao Lô và ngày 12, LÍ TÃn phong Giám-møc cho ñÙc Cha NguyÍn Soån , Giám-møc ÇÜÖng kim Giáo phÆn Qui-NhÖn .

        Theo d¿ tính cûa ñÙc Cha Soån thì Çây  së  là   m¶t  Trung   tâm   Møc vø  trong  tÜÖng  lai  gÀn.

        ñ‹ k‰t thúc, xin  mÜ®n  tâm  tinh  cûa   ñÜc  Giám møc   Qui-NhÖn  trong  thÜ  ÇŠ ngày 6  tháng 4   næm 2002 gªi cho Thân-hºu  QN  häi ngoåi ,  ñÙc  Cha   Üu  ái  r¢ng : ‘’  M‡i   næm  vào  ngày  LÍ kính Thánh Giu-Se , các c¿u Chûng sinh Làng sông Qui- nhÖn xa gÀn ÇŠu tø h†p nhau Ç‹ giao lÜu . Ngày Çó có Thánh LÍ , ôn låi quá khÙ thân thÜÖng và qui tø ch£ng nh»ng các c¿u h†c viên mà còn cä                    gia Çình v® con cûa các anh . ñiŠu này nói lên phúc lành cûa Thiên Chúa dành cho nhÛng ai  Çã tØng sÓng dܧi  mái  trÜ©ng thân yêu này . NgÜ©i  làm Giám-møc , ngÜ©i  làm Linh-møc , kÈ có Çôi bån , kÈ sÓng Ƕc thân , tÃt cä ÇŠu ÇÜ®c rèn luyŒn nÖi Çây ÇÈ trª nên h»u ích cho Chúa , cho Giáo H¶i , cho các gia-Çình không phân biŒt ngôi thÙ,Ç£ng cÃp hay ÇiŠu kiŒn sÓng . NhÜ vÆy, Làng Sông nay không phäi Çi vào dï vãng , mà trª nên ‘ ALMA MATER ‘ , ngÜ©i MË thân thÜÖng, trª nên bi‹u trÜng cho tình Chúa nhÆp th‹ nÖi chúng ta , nay lan r¶ng kh¡p muôn nÖi, vÜ®t qua m†i biên gi§I Ç‹ mang tinh thÀn huynh ÇŒ th¡m thi‰t Çên cho m†i ngÜ©i . ‘’  ./-
 

TIỂU CHỦNG VIỆN LÀNG SÔNG VÀ TIỂU CHỦNG VIỆN QUY NHƠN
QUA DÒNG THỜI GIAN

 Lm Võ Đình Đệ

 Lời giới thiệu:

       Cuối năm 2006, từ Philippines, tôi có viết một trang mời gọi hướng về kỷ niệm    150 năm Chủng Viện Làng Sông và đã được đăng vào Nội San CCS/LSQN. Ý tưởng ấy dựa trên kỷ niệm mừng 100 năm (1964). Hơn một tháng qua, được về lại Giáo Phận, tôi có dịp đọc lại lịch sử Giáo Phận, trong đó có bài sau đây của cha Gioan Võ Đình Đệ đặt vấn đề về thời điểm khai sinh Chủng Viện Làng Sông. Theo đó, có sử liệu cho biết năm 1850 hai chủng viện Làng Sông và Mương Lở đã có 60 chủng sinh. Như vậy, đến nay Làng Sông đã có trên 157 năm lịch sử. Xin gởi đến quý cha và anh chị em bài này để chúng ta rõ hơn về cội nguồn. Nhân tiện, cũng xin đính chính một chi tiết trong bài hướng tới 150 năm nói trên, trong đó tôi đã viết sai giáo phận Đông Đàng Trong thành Tây Đàng Trong. Xin thành thật cáo lỗi. Thân ái chào quý cha và anh chị em.

Lm Gioan Phêrô Võ Tá Khánh    

Con người có cố có ông
Như cây có cội như sông có nguồn.

        Có những dòng sông phát nguyên từ nguồn không dài lắm. Có những dòng sông phát nguyên từ nguồn xa thăm thẳm. Chủng Viện Làng Sông đã từng trải qua dòng chảy thời gian khá lâu dài. Ngày 14-01-1964, Chủng Viện Làng Sông hiệp với Giáo Hội hoàn vũ mừng kỷ niệm 400 năm ngày công đồng Tridentinô quyết định thành lập các Chủng viện để đào tạo linh mục1, nhân dịp nầy cũng đặc biệt mừng 100 năm thành lập chủng viện Làng Sông. Đại lễ kỷ niệm được kể lại: “... Ngày 14, từ 7 giờ sáng, quý khách đã bắt đầu tới. 8 giờ 40 thì hai Đức Cha Quy Nhơn và Đà Nẵng đến cùng với các Cha Chính Quy Nhơn, Kontum và nhiều Cha khác......... 9 giờ 10, Chủng sinh rước hai Đức Cha vào nhà thờ... Bài giảng Thánh lễ của Đức Cha Quy Nhơn đã làm cho cử toạ chú ý. Đức Cha đã trình bày hai điểm chính: Sắc lệnh công đồng Tridentinô thiết lập các Chủng viện và lịch trình tiến triển của Chủng viện Làng Sông.... ”2.

Sự kiện lịch sử mừng kỷ niệm 100 năm thành lập Chủng Viện Làng Sông đã được ghi lại trong ký ức của những ‘người đương thời’ mừng lễ, nay vẫn còn sống, và trên giấy trắng mực đen cho hậu thế được tường. Ngoài tài liệu kể trên, khi được tiếp cận với những tài liệu khác có liên quan đến Chủng Viện Làng Sông, chẳng hạn trong tiểu sử Cha Phaolô Châu, nguyên Giám Đốc Chủng Viện Làng Sông, ghi rằng:”Cha Châu sinh tại Bình Định, làng Xuân Hương, Gò Thị hội. Cha là Hoà, mẹ là Nguyện; cả hai đạo dòng, sanh lý thương mãi, đủ ăn đủ mặc, không tham ô, không ngược xuôi với ai. (Có bà con với Chơn Phước Năm Thuông). Khi chín mười tuổi, cha mẹ cho đi học văn. Học mau, hiểu lẹ, sáng dạ hơn hết cả lớp tuổi với người.

“Vừa mười ba tuổi, cha mẹ dưng hầu Đức Cha. Người thấy trẻ sáng trí, tính hiền nết tốt, tử tế thì sai qua Pinang. Học bảy năm, đặng tiếng các cha giáo trường khen rằng: “Học giỏi sảo thông, luật mẹo chín chắn, đạo đức đủ bề, đã nên trò tốt”. Mãn học, Đức Cha đòi về, sai đi giúp giảng đạo ba năm. Đến đâu siêng năng giúp dạy người ta, ân cần lo việc bổn phận, ăn nói hiền lành, dịu dàng khiêm nhượng; ai ai cũng đều yêu vì tôn phục.

“Sau Đức Cha phong chức cho người tại Gia Hựu, và sai vô cai trường Mương Lở, chừng ba năm. Mà khi nhà trường nầy nhập vào trường Làng Sông, thì người coi bổn đạo ngoài ấy, đâu hai tháng. Lại khi Cha Tư bị bắt, thì Đức Cha sai người vô trường Làng Sông, cai thế đó gần hai năm.

“Đến khi có chỉ ra bắt bổn đạo đi phân sáp, cùng truyền phá nhà bổn đạo hết, cho nên các chú ở nhà trường không được nữa, thì Đức Cha dạy người lo chở các chú vô Gia Định; nên người dọn đem đồ cần dùng, và mướn đặng một chiếc ghe kẻ ngoại, lại dặn các chú phải chia nhau ở xung quanh gần chổ ghe đậu mà đợi người. Mà có bữa kia người xuống một mình dưới ghe ấy, có ý gặp lái ghe, mà hỏi thăm cho biết ngày nào chạy, thì có một tên thơ lại, và chức việc làng tới bắt người trong ghe tại sông Dinh gần nhà trường, liền gia giang giáo mác dùi gậy, giải về huyện, tra hỏi căn do, tên tuổi chức phận. Người xưng ngay mình là đạo trưởng, tức thì quan huyện giải người nạp tỉnh.

“.......

“Bấy giờ nghe tiếng truyền rằng: hễ nghe ba hồi chiêng rồi, thì cứ y như lịnh dạy; mà khi mới nghe một hai tiếng chiêng, tức thì nó đã chém rồi.... khi ấy bổn đạo ở xung quanh khóc om sòm, cùng chạy lại lấy vải thấm máu; đoạn thầy Khoa lo chôn cất phô đứng ấy nơi xử. Đến khi cha Triết lấy cốt đem về Gò Thị, rồi chở vô nhà trường Làng Sông, táng trong nhà thờ. Trước năm ất dậu dỡ nhà thờ ấy, thì lấy cốt vào quách, để trong phòng nhà thờ mới; đến năm giặc, phải thân hào phá mất hết, chỉ còn một mình xác cha Châu mà thôi, vì các cha nhà trường Pinang đã xin cùng chôn tại nhà thờ”.3 

Cha Châu bị sát hại tại Gò Chàm, Bình Định vào năm thứ 15 triều đại Tự Đức, tức năm 1862 (dương lịch)4. Căn cứ vào các tài liệu nầy, chúng ta có thể xác định Cha Phaolô Châu thụ phong linh mục khoảng năm 1856; ‘cai trường’ Mương Lở5  từ năm 1856 –1859; ‘cai trường’ Làng Sông từ năm 1859 đến khi bị bắt (1861). Như vậy ‘trường Làng Sông’ và ‘trường Mương Lở’ được thành lập khi nào?.

Từ khi Giáo Phận Đàng Trong được thành lập (1659) cho đến thời Đức Cha Cuénot Thể về ở tại Gò Thị (1839), chưa có Chủng viện nào được thành lập tại phần đất thuộc Giáo Phận Quy Nhơn ngày nay. Trong hoàn cảnh bị cấm đạo, việc huấn luyện chủng sinh trong một Chủng viện có quy củ là việc không thể dễ dàng. Tuỳ hoàn cảnh, các thừa sai có thể nhận nuôi dạy vài ba học trò tiếng La tinh, sau đó tìm cách gởi qua Chủng Viện Pinang để được đào tạo. Sau thời điểm Công Nghị Giáo Phận Đàng Trong được Đức Cha Cuénot Thể tổ chức tại Gò Thị6, chủng viện mới được thành lập: “Đức Cha lại lập nhà trường qui học trò tập học tiếng latinh, để nữa lựa gởi qua học Pinăng, hầu sau về làm thầy cả, giúp việc linh hồn người ta, cùng mở rộng Hội Thánh Nam Kỳ cho càng ngày càng thạnh. Vậy đã lập một trường tại tỉnh Quảng Nam, chính họ Tùng Sơn; còn tỉnh Bình Định, một trường tại họ Mương Lở, và một trường tại họ Làng Sông”.7 

Thời điểm năm 1850, sau khi Toà Thánh lấy hai tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị và nửa tỉnh Quảng Bình lập thành Giáo Phận Bắc Đàng Trong, phần còn lại vẫn giữ tên Giáo Phận Đông Đàng Trong, gồm các tỉnh từ Quảng Nam tới Bình Thuận, lúc bấy giờ tại Chủng Viện Làng Sông và Mương Lở đã có 60 chủng sinh8.

Các chủng viện nầy sinh hoạt tương đối ổn định cho đến năm 1859, thời điểm Vua Tự Đức ra sắc dụ cấm đạo. Sau khi sắc dụ cấm đạo được ban hành, Đức Cha Cuénot cho giải thể chủng viện Tùng Sơn và Mương Lở, chỉ mình chủng viện Làng Sông còn sinh hoạt, lúc bấy giờ Cha Tư đang làm giám đốc. Đang lúc cấm đạo gắt gao, “Tự Đức thập nhị niên, thập ngoạt, Cha Tư cai trường Làng Sông cỡi ngựa ra Gò Thị, hầu Đức Cha mà bàn tính việc. Đến nửa đàng, Cha phải bắt tại Kỳ Sơn, cùng giải lên tỉnh, nạp cho quan Tổng đốc”9. Sau khi Cha Tư bị bắt, Cha Phaolô Châu từ Mương Lở về thay thế. Hai năm sau, năm 1861, chiếu chỉ phân sáp của Vua Tự Đức được các quan thi hành triệt để. Đức Cha Cuénot Thể bị bắt ngày 24-10-1861 và trút hơi thở cuối cùng tại nhà giam Bình Định vào đêm 14-11-1861. Cha Phaolô Châu cũng bị bắt và chịu xử trảm tại Gò Chàm, Bình Định vào tháng 5 năm 1862. Do tình hình cấm đạo gắt gao như thế, Chủng viện không còn sinh hoạt được nữa.

Ngày 25 tháng 8 năm 1862, Vua tự Đức hạ chỉ ân xá cho các tù nhân, trong đó lệnh phân sáp người công giáo cũng được bãi bỏ. Lúc bấy giờ, đoàn tín hữu đã tan nát, phân tán khắp nơi. Cha Herrengt, Cha Jean Claude Roy cùng hai Cha già người Việt và mười hai chủng sinh đã vâng lệnh Đức Cha Cuénot di cư vào Gia Định từ hôm 21-8-1861. Cha Charles Herrengt, Cha chính của Giáo phận đã ở Gia Định, trong khi chờ được trở về Giáo phận, ngài được bổ nhiệm làm Cha sở Xóm Chiếu. Ngài qua đời ngày 20 tháng 6 năm 1863 tại Sài Gòn. Trong khi đó “Các Cha phần nhiều bị bắt: Cha Châu cai trường Làng Sông...; Cha Luận và Cha Hân đã trốn lên núi phía trên cửa Giã cũng bị làng đuổi theo bắt mà nộp quan; Cha Huệ, Cha Sự, Cha Bửu đã xuống ghe ông Qui và ông Me mà trốn dưới sông dưới sát, rủi phải kẻ ngoại tìm đặng mà giải lên thành; sau hết Cha Thủ cũng bị bắt ngoài Bồng Sơn, mà điệu vào tỉnh.

“Có Cha sống sót, giả đạo chúng mà phân sáp, như Cha Vịnh, Cha Khương, cũng khổ cực chua xót. Lại cũng có Cha như Cha Triết, tính bạo dạn, chuyên lo ẩn mình, giả dạng đi làm phước cho bổn đạo khắp nơi cấm cố, hay là lén vào tù thăm viếng phô kẻ bị giam cầm vì Chúa..”10

Trong tình trạng thiếu Linh mục trầm trọng như thế, việc đào tạo Linh mục phải là một ưu tiên hàng đầu và khẩn cấp hơn lúc nào hết. Do đó, có thể các Chủng sinh được tái quy tụ về Làng Sông trong thời điểm sớm nhất sau ngày 25 tháng 8 năm 1862, ngày Vua Tự Đức hạ chỉ bãi bỏ lệnh phân sáp.

Từ ngày Đức Cha Cuéot Thể qua đời cho đến năm 1865, Giáo phận mới có chủ chăn. Đức Cha Eugène Charbonnier Trí, một thừa sai làm việc ở Đàng Ngoài, đã bị bắt năm 1861, đã nếm cảnh lao tù, đòn vọt, đã bị kết án tử, nhưng rồi được tha và bị trục xuất về Âu châu. Ngày 27 tháng 12 năm 1864, Ngài được tấn phong Giám mục tại nhà nguyện Chủng viện Hội Thừa Sai nước ngoài Paris. Ngày 13 tháng 4 năm 1865, sau khi nhận phép lành của Đức Thánh Cha Piô IX, Ngài lên đường đến Giáo phận Đông Đàng Trong. Ngày 14 tháng 7 năm 1865, đoàn tín hữu còn rỏ ràng hai chữ ‘tả đạo’ trên má, vui mừng đón nhận vị chủ chăn của mình. Năm 1865, có 21 Chủng sinh đang theo học tại Chủng viện Pinang và 20 Chủng sinh được Đức Cha đón nhận tại Gia Hựu11. Sau 13 năm chăm sóc Giáo phận, Thứ Tư, ngày 7 tháng 8 năm 1878, Ngài trút hơi thở cuối cùng. Trong 13 năm chăm sóc Giáo phận, Đức Cha Charbonnier đã tổ chức việc đào tạo Linh mục bản xứ: lập Đại Chủng Viện Nước Nhỉ và tái lập Tiểu Chủng Viện Làng Sông. Ngày Ngài qua đời, đã có 30 Đại Chủng sinh tại Đại Chủng Viện Nước Nhỉ và 50 Chủng sinh tại Tiểu Chủng Viện Làng Sông.12 

Các tài liệu trên đây đã hé mở cho chúng ta phần nào về nguồn gốc Chủng Viện Làng Sông. Trong thư luân lưu của Đức Cha Đaminh Hoàng Văn Đoàn, ngày 22 tháng 8 năm 1962, có chỉ thị:“Thể theo ý nguyện của Thánh Bộ, sau khi đã bàn với ban tư vấn, và được sự đồng ý của Đức Giám mục Đà Nẵng, tôi định ngày 14 tháng I dl. 1964 tại Chủng viện Làng Sông sẽ khai mạc tuần tam nhật để kỷ niệm đệ tứ bách chu niên ngày Công Đồng Tridentinô quyết định thành lập các Chủng viện. Cha Giám đốc, các Cha giáo sư Làng Sông vui lòng phụ trách tổ chức cuộc lễ. Chương trình sẽ gởi sau”13. Thư luân lưu nầy không đề cập gì đến việc mừng kỷ niệm 100 năm Chủng Viện Làng Sông. Ngày Chủng Viện Làng Sông mừng kỷ niệm 100 năm thành lập, theo như Cha Phêrô Huỳnh Kim Lăng, ‘người đương thời’ cùng với Cha Phaolô Nguyễn Thanh Bình14, đứng ra tổ chức đại lễ kỷ niệm ấy, đã cho biết: “Việc mừng kỷ niệm 100 thành lập Chủng viện Làng Sông nhân dịp kỷ niệm 400 năm công đồng Tridentinô ra quyết định thành lập các Chủng viện, nhằm mục đích cổ võ ơn thiên triệu và đề cao Chủng viện là một tổ chức nòng cốt của Địa phận đã có một lịch sử lâu dài ”.

Sau cuộc lễ đại kỷ niệm nầy, vì tình hình an ninh, ngày 02 tháng 10 năm 1964, Hội Đồng Chủng Viện đã quyết định với sự đồng ý của Bề trên Địa phận, cho hai lớp Đệ nhị và Đệ tam xuống Quy Nhơn lưu học tại trường La San. Tháng 3 năm 1965, Bề trên Địa phận cho phép bãi trường sớm và quyết định niên khoá 1965-1966, tất cả các lớp tựu về học tại cơ sở Bình Lợi cũ ở Quy Nhơn, cạnh nhà thờ Chính toà. Vì nhu cầu cho 197 Chủng sinh trong niên khoá nầy, Ban Giám Đốc cho dựng thêm một nhà cơm, một nhà chơi và một nhà ngủ. Ngày 02 tháng 02 năm 1968, Tiểu Chủng Viện Quy Nhơn được khởi công xây dựng và hoàn thành ngày 20 tháng 5 năm 1972.15

Cho đến hôm nay, Tiểu Chủng Viện Làng Sông & Quy Nhơn đã trải qua chặng đường lịch sử khá lâu dài với những thăng trầm, hưng thịnh, có lúc ngừng nghỉ, có lúc hoạt động như những nhịp đập của quả tim, lúc thì mở rộng tuôn máu ra khắp cơ thể, lúc thì khép lại, hút máu quy tụ về. Ngày hôm nay, những sinh hoạt rộn rã, những âm thanh bài thánh ca đồng giọng “đực rựa”, những giọng tập đọc tiếng Pháp, tiếng Latinh trong các giờ lớp, những âm thanh thình thịch của giờ đá banh, mùi khói trấu nấu cơm từ nhà bếp... đã nhường chỗ cho tiếng lao xao rì rào của hàng cây sao, cho những tiếng cúc cu của bầy chim gáy, cho những âm thanh ri rỉ của dế mèn. Sự tĩnh mịch của Chủng Viện Làng Sông hôm nay như nhịp tim đang khép lại, hút máu quy tụ về. Bởi lẽ, những con người đã từng được sống nơi đây, đã từng đồng ẩm đồng thực cơm gạo đồng với nước mắm cá cơm, có khi cơm ghé khoai bắp với chút hương vị trứng luộc hay canh rau tạp tàng, tất cả đều được nhận lệnh của Thầy Chí Thánh: “Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15). Dù hôm nay người đã nằm xuống trong lòng đất lạnh hay người đang rong ruổi trên mọi nẻo đường, lệnh của Thầy Chí Thánh vẫn được thi hành trong cầu nguyện, trong hy sinh, trong công việc bổn phận, trong công việc tông đồ.

1 Ngày 22/02/1963 Thánh Bộ Chủng Viện và Đại Học ra Văn thư số 348/63 gởi đến các Đấng Bản Quyền, ước mong các Đấng Bản Quyền sẽ tuỳ theo hoàn cảnh và phương tiện mà tổ chức mừng kỷ niệm. Trong Địa phận Quy Nhơn, Đấng Bản Quyền đã ấn định ngày 14-01-1964 tổ chức mừng lễ kỷ niệm tại Làng Sông. (Thông tin Địa phận số 38, tháng 9 năm 1963, trang 05).

2 Thông tin Địa Phận số 42, tháng 4 năm 1964, trang 16.

3 Mm. 29 Fevrier 1909, p. 76-80.

4 Mm. 29 Fevrier 1909, p. 86-87.

Mương Lở, ngày nay là giáo họ Hoà Mục thuộc thôn Hoà Hiệp, xã Cát Tài, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

Công Nghị được nhóm họp vào ngày mồng 05, mồng 06 và mồng 10 tháng 8 năm

1841 (Dl).

R.P. Tardieu, Hạnh Đức Cha Thể, Lang-Song imp. de la mission 1907, trang 43.

8  P. Durand, Les Missions Catholiques No. 3123, 1er, Dec. 1930, p. 539.

9  R.P. Tardieu, Hạnh Đức Cha Thể, Lang-Song imp. de la mission 1907, trang 70.

10 R.P. Tardieu, Hạnh Đức Cha Thể, Lang Song imp. de la mission, 1907, p. 76-77.

11 P. Durand, Les Misions Catholiques, no. 3123, 1er Dec. 1930, p. 539.

12 P. Durand, Les Misions Catholiques, no. 3123, 1er Dec. 1930, p. 543.

13 Thông tin Địa phận số 38, tháng 9-1963, trang 5.

14 Cha Phaolô Bình qua đời ngày 07-3-2007. Bài nầy được viết khi Cha Phaolô còn sống.

15 Thông tin Địa phận số 72, tháng 06 năm 1972, trang 01.

LM. Võ Đình Đệ

 

 

 

        

  

 

                                                                 

CHÙM THƠ THÁNG 8
(Rev.Võ Tá Khánh)

 
   

TƯỞNG NHỚ
& TẠ ƠN
(Thể Nguyễn
)

 
   

LỄ GIỔ
Ân sư & Bằng hũu
(Pham C.Đáng)

 
   

VÒNG KÝ ỨC
(Cù M.Khánh
)

 
   

Mùa của tình yêu & hiệp thông
(Nt Bảo Linh)

 
   

Nhớ Ông Bà Tổ Tiên..
(Rev. Tran D.Đức)

 
   

THƯ ĐỨC CHA QN
(nhân ngày Truyền giáo TG)

 
   

Sinh hoạt
SYDNEY-UC CHÂU

 
   

DOI SONG
(Kieu Lam CL
)

 
   

HĐGMVN
     Nhập cuộc.....

 
   

QUAN ĐIỂM CỦA
HĐGMVN

 
   

THƯ CỦA
HĐ GIÁM MỤC MVN

 
   

MẸ VN ƠI
CÁM ƠN MẸ
(Tran Duy Nhiên)

 
   

BÀI NÓI CHUYỆN
CỦA ĐGMQN

 
   

CHÚT TÂM TÌNH
(Chương Huỳnh)

 
   

NIỀM VUI HỢP NHÂT
(Sang Nguyễn)

 
   

GIAO LUU  VỀ CVLS
(Rev.Q.Báu)

 
   

VẪN CÒN...
(Rev.Hiền Trương)

 
   

PHỤNG VU & CD.V2
(Trình Le)

 
   

MẸ
(Thể Nguyễn)

 
            

Cựu Chủng Sinh Làng Sông Qui Nhơn.  Webmaster: Sangnguyen . Email: ccslsqn_bch@yahoo.com