|
CHÑNG-VIÊN LANG-SÔNG QUI-NH÷N
CONG-LUÂN
(sưu tập)
Danh xÜng ‘’ CHÑNG VIN ‘’ cho ta cäm nhÆn ÇÜ®c r¢ng : ñây
là ÇÎa-Çi‹m Ç¥c biŒt Ç‹ ÜÖm GiÓng ,hay nói Çúng hÖn : nÖi Ç‹ Çào-tåo
hàng Linh-møc, vì theo s¿ thi‰t-lÆp
( Giáo H¶i ) cûa Chúa Giê-su KiTô
‘’ Çã có con chiên, tÃt nhiên phäi có chû chiên ‘’ . NhÜ vây, tìm hi‹u
sÖ lÜ®c vŠ LÎch-sº Chûng-viŒn cûa Giáo phÆn nhà tܪng cÛng là ÇiŠu h»u
ích . RÃt ti‰c vì nÖi ÇÃt khách quê ngÜ©i , tài liŒu nói vŠ
Chûng-viŒn Làng-sông / Qui-nhÖn quá hån hËp, nên viŒc sÜu-tÆp không ÇÜ®c
mÃy ÇÀy Çû, còn nhiŠu thi‰u sót . Kinh mong quí bÆc cao niên vui lòng
b°-túc thêm .
N¶i san Liên Låc cûa H¶i Ai-h»u C¿u Chûng-sinh Làng-sông Qui-nhÖn
tåi California, sÓ k›-niŒm LÍ Thánh Quan ThÀy Giu-Se næm 2000, trang 86,
có m¶t bài tÜ©ng-thuÆt do NguyÍn-trÜ©ng- Thæng sÜu-tÆp . Bài báo mô tä:
Ngày 14 tháng 12 næm 1963, Chûng-viŒn Làng-sông mØng ‘’ K›-niŒm bách
chu niên ‘’. PhÀn mª ÇÀu cûa bài này ghi nhÆn : Trích tØ bän Thông-tin
ñÎa-phÆn ñà-N¤ng và Qui-NhÖn tháng 4 næm 1964 và ghi chú rõ tác giä
NguyÍn-trÜ©ng-Thæng chính là Linh-møc NguyÍn-trÜ©ng-Thæng,
Chûng-sinh Làng-sông Qui-nhÖn, hiŒn nay là Cha sª Giáo-xÙ Thanh-Bình, ñà-n¤ng
. Bài báo tÜ©ng-thuÆt khá chi ti‰t vŠ viŒc t° chÙc bܰi LÍ ‘’ MØng M¶t
Træm Tu°i ‘’ cûa Chûng-viŒn, có s¿ hiŒn diŒn cûa hai Giám-møc : ñÙc Cha
Phêrô Phåm-ng†c-Chi, Giám-møc ñà-n¤ng chû-t‰ và ñÙc Cha ñaminh
Hoàng-væn-ñoàn, Giám-møc Qui-nhÖn thuy‰t giäng. Ngoài ra còn có hai Cha
Chính cûa hai ñÎa-phÆn Qui-nhÖn và Kontum, Cha Giám-ÇÓc Chûng-viŒn
Làng-sông cùng m¶t sÓ Çông Linh-møc tham-d¿ mà Cha già Tš là niên-trܪng,
phát bi‹u cam-tܪng .
N‰u quä thÆt Çúng vÆy, thì Chûng-viên Làng-sông Qui-nhÖn Çã
ÇÜ®c thành-lÆp tØ næm 1863 .
CÛng trong N¶i san Liên Låc næm 1996, trang 29, có m¶t bài cûa
Cha NguyÍn-trÜ©ng-Thæng, vi‰t tØ Paris, Pháp quÓc ( Khi Ngài Çang du h†c
tai Çó ) nói vŠ LÍ Khánh-thành tân Chûng-viŒn Làng-sông ngày 21 tháng 9
næm 1927, và ghi rõ trích bän tin Khánh-thành Ti‹u Chûng-viŒn nhân dÎp
mØng Ngân-khánh Giám-møc cûa ñÙc Cha GRANGEON ( MÅn ) và Ngân-khánh
Linh-møc cûa Cha Chính ñÎa-phÆn Labiausse ( CÓ Sáng ) và Cha Giám-ÇÓc
Ti‹u Chûng-viên Cha Gagnaire ( CÓ ñÎnh ) , Çæng trong Mémorial de
Quinhon cuÓi næm 1927 .
ñ‹ tìm hi‹u gÓc-tích Chûng-viŒn Làng-sông Qui-nhÖn thêm chi-ti‰t
hÖn, tܪng cÛng nên Çi ngÜ®c lai dòng lÎch-sº Giáo-H¶i ViŒt Nam .
Cæn cÙ vào Sº-liŒu chính-thÙc thì Giáo-H¶i Viêt Nam ÇÜÖc k‹ tØTh‰-k›
thÙ XVI ( 1533 ) . Công viŒc rao giäng Tin MØng Phúc Âm trong bu°i
sÖ-khai do các Giáo-sï thu¶c các Dòng ña-minh và Phan-xi-cô Çäm-trách mà
cÖ-sª truyŠn giáo chính n¢m tåi Ma-cao ( Trung-Hoa ) và Ma-ni-la (Phi-luÆt-Tân
). Tåi Çäo Malacca, Tu-viŒn Santa Cruz cÛng là m¶t Trung tâm TruyŠn-giáo
cho cä vùng ñông Nam Á lúc bÃy gi©. Sang ÇÀu Th‰-k› XVII ( 1613 ) có
thêm các Giáo-sï Dòng Tên ljn tØ NhÆt-Bän, trong sô này có Linh-møc
Buzomi ( gÓc Ý- 1615-1638 ) hoåt-Ƕng rÃt Çæc-l¿c ª vùng Nam-hà. ñ‰n
næm 1626 Dòng Tên mª r¶ng TruyŠn-giáo ra B¡c-hà, lai có Cha A-lÎch-sÖn
ñ¡c-L¶ ( Alexandre De Rhôdes ) , ngÜ©i Çã sáng lÆp ra vÀn QuÓc-ng» . ñ‹
Çào-tåo nh»ng c†ng-s¿-viên ngÜ©i bän xÙ trong công viŒc mª mang nܧc
Chúa, Cha Buzomi Çã thành-lÆp ‘ H¶i ThÀy Giäng ‘ tåi xÙ Nam-hà .ñó là
m¶t t°-chÙc gÒm nh»ng thanh-niên Ƕc thân, Ç‹ lúc nào cÛng có th‹ sÓng
bên cånh các ThØa sai và hy-sinh tÃt cä cho hoåt-Çông truyŠn-giáo . Rút
kinh-nghiŒm s¿ cÀn thi‰t và l®i ích cûa H¶i ThÀy Giäng Nam hà, Cha ñ¡c-L¶
cÛng quan tâm t° chÙc h¶i ThÀy Giäng tåi miŠn B¡c hà . Các ThÀy Giäng
tuyên hÙa ba ÇiŠu : SÓng Ƕc thân trong th©i gian hoåt-Ƕng truyŠn giáo,
vâng l©i các ÇÃng BŠ-trên và Ç‹ tÃt cä làm cûa chung cho C¶ng-Çoàn Dân
Chúa . Á Thánh An-rê Phú-yên Tº ñåo là m¶t ThÀy Giäng . ñó là nguÒn gÓc
‘’ Nhà ñÙc Chúa Tr©i ‘’ ª miŠn B¡c sau này, nÖi xuÃt thân cûa nh»ng
Linh-møc bän xÙ tiên khªi ( Les origines des Clergés Vietnamiens -
Saigon-1959) và cÛng g†i ÇÜ®c là mô-hình Chûng-viŒn lúc ban khai tåi
ViŒt-Nam.
HÖn m¶t træm næm sau, ngày 9 thánh 9 næm 1659, ñÙc Thánh Cha
Alexandrô VII
( 1655-1667 ) công-bÓ s¡c lŒnh thi‰t lÆp tåi ViŒt Nam hai
ñÎa-phÆn : ñÎa phÆn ñàng Ngoài
( còn g†i là B¡c hà ) do ñÙc Giám-møc
Francois Pallu Giám-quän Tông-tòa và ñÎa-phÆn ñàng Trong ( Nam hà ) dܧi
quyŠn giám-quän cûa ñÙc Cha Lambert De La Motte, lÃy sông Gianh làm
ranh-gi§i, theo ÇÎa-dÜ chính-trÎ hiŒn th©i gi»a hai hŒ-thÓng quyŠn-l¿c :
Chúa TrÎnh miŠn B¡c và Chúa NguyÍn miŠn Nam. ñÎa-phÆn ñàng Trong lúc Çó
gòm tØ sông Gianh trª vào miŠn ThuÆn-Hóa trên ÇÃt ViŒt, qua phía Nam ÇÃt
Chiêm-Thành, sang Cao-Miên ljn Thái-Lan .
Næm 1665, ñÙc Cha Lambert De La Motte thi‰t lÆp ngay m¶t
Chûng-viŒn tåi Juthia trên ÇÃt Thái, dành riêng cho hàng Giáo-sï ViŒt
Nam . CÛng trong næm này ñÙc Cha Pallu giao quyŠn giám-quän Giáo-phÆn
ñàng Ngoài cho ñÙc Cha Lambert Ç‹ trª vŠ Âu-châu tìm thêm th® g¥t truyŠn
giáo . Ngày 24 tháng 2 næm 1668, ñÙc Cha Lambert phong chÙc cho hai
tân Linh-møc bän xÙ tiên khªi tåi B¡c-hà : Cha BênêÇitô HiŠn và Cha
Gioan HuŒ . M¶t tháng sau cÛng næm Çó, ngày 21 tháng 3 ñÙc Cha
låi phong chÙc cho hai tân Linh-møc ñàng Trong là Cha Giu-se Trang
và Lu-ca BŠn . BÓn vÎ Linh-møc Viêt ÇÀu tiên này ÇÜ®c tuy‹n ch†n tØ h¶i
ThÀy Giäng, có Çû ÇiŠu-kiŒn và ÇÜ®c Çào-luyŒn m¶t thòi gian tåi
Chûng-viŒn Juthia (Thái Lan ) .
Ngày 14 tháng 2 næm 1670, ñÙc Cha triŒu tÆp Công-ÇÒng MiŠn
( thÙ nhÃt) tåi xÙ Nam, phong-chÙc cho bäy tân Linh-møc bän xÙ, phân b°
các chû chiên, tuy‹n ch†n Chûng-sinh (theo tinh thÀn Công-ÇÒng
Tridentino 1545-1563 ) và thi‰t lÆp Dòng M‰n Thánh Giá, ÇÒng th©i ch†n
Thánh Giu-se làm Quan ThÀy Giáo-H¶i VN .
Sáu mÜÖi læm næm sau, næm 1730, Chûng-viŒn Juthia ÇÜ®c d©i vŠ
Chantabun ( Thái-Lan ) Ç©i ñÙc Giám-møc Alexandrô ( 1728-1738 ) .
Næm 1767, Ç©I ñÙc Giám møc Piguel, Chûng viŒn ÇÜ®c H¶I ThØa sai
Paris tåm Ç¥t cÖ sª tåi Hòn ñÃt ( gÀn Råch Giá, thu¶c tÌnh Ki‰n Giang
ngày nay ). CÛng trong næm Ãy, Cha Bá ñaL¶c ( Pigneau de Béheine ) ÇÜ®c
gªi sang truyŠn giáo tåi ViŒt Nam và làm giáo sÜ Chûng viŒn. Næm 1768,
ngài ÇÜ®c ÇŠ cº làm giám ÇÓc.Tháng 12 næm 1769, Chûng viŒn Hòn ñÃt bÎ
quân Cao Miên tÃn công thiêu hûy, Linh møc giám ÇÓc và Cha Morvan cùng
v§I khoäng 13 chûng sinh phäi r©I khÕi ViŒt Nam sang Malacca, Çoån xuôi
vŠ Pondichéry, n¢m trong vÎnh Bengale, Çông nam ƒn ñ¶. Næm 1770, Cha
Giám ÇÓc lÆp m¶t Chûng viŒn tåm th©I tåi Virampatnam phía b¡c
Pondichéry ). M¶t næm sau, Chûng viŒn Çã có 39 Chûng sinh, gÒm 12 ngÜ©I
Trung hoa, 21 ngÜ©I ViŒt Nam ( 16 thuôc ñàng Ngoài, 5 thuôc ñàng Trong
), 4 ngÜ©I Thái lan, m¶t Cao miên và m¶t Mä lai á. Chûng sinh ÇÜ®c chia
ra làm 4 ban : thÙ nhÃt là ban ThÀn h†c, ba ban còn låi, h†c ti‰ng La-tinh,
Væn chÜÖng và Tôn giáo.
Næm 1771, ñÙc Giáo Hoàng Clementê XIV b° nhiŒm Cha Bá-Ça-L¶c
làm Giám møc phó. CÛng trong næm Ãy, ngày 20 tháng 6, ñÙc Giám møc
Piguel lìa trÀn, Cha tåm quyŠn Giám quän Tông toà, ljn tháng 2 næm
1774, m§I chính thÙc ÇÜ®c tÃn phong và ngày 12 tháng 3 næm 1775. Ngài
m§I vŠ låi Giáo Çoàn ñàn Trong. Th©I Ãy, các Linh møc cäi trang làm m†I
thÙ nghŠ : th® m¶c, th® nŠ, thÀy lan, bán thuÓc cao Ç®n hoàn tán, Çi câu,
Çánh cá, lái buôn, thÆm chí Çi h§t tóc dåo, gánh nܧc thuê v.v. . . Ç‹
truyŠn Çåo, làm công tác møc vø và ÇÜ®c s¿ tr® giúp tích c¿c cûa các
thÜÖng nhân. Nh»ng nÖi tåm th©I làm Chûng viŒn lúc Çó, ÇŠu nhà tranh
vách ÇÃt, nhiŠu khi trên các thÜÖng thuyŠn, thi‰u thÓn Çû m†I thÙ và
thÜ©ng næng di Ƕng ( trÓn chåy nÖi này sang nÖi khác vì bÎ cܧp bÓc hay
bÎ lŒnh b¡t Çåo truy nã ). ViŒc h†c hành g¥p nhiŠu khó khæn,phÙc tåp,
phÀn thì thi‰u døng cø giáo døc, sách vª, t¿ Çi‹n, phÀn låi phäi hÒi h†p
lo s® các s¡c dø cÃm Çåo.
Tháng 3 næm 1776, ñÙc Giám møc ÇÜ®c ñè ÇÓc Hà Tiên, Måc
thiên TÙ
( còn g†I là Måc thiên Tích, con cûa Måc Cºu ) cÃp cho
m¶t khu ÇÃt khá r¶ng tåi cây Quao Ç‹ Ç¥t Toà Giám møc. Ngài cÛng cÃt m¶t
Chûng viŒn và tÆp trung các Chûng sinh vŠ Çây tu tÆp, dܧI s¿ hܧng dÅn
cûa Cha Morvan. Næm 1778, nhiŠu Çoàn cܧp Cao Miên tràn sang ÇÓt phá
Chûng viŒn, gi‰t Chûng sinh, nên Chûng viŒn b¡t bu¶c phäi d©I vŠ Gia
ñÎnh.
Tháng 8 næm 1782, NguyÍn HuŒ kéo quân thûy b¶ nam ti‰n, Çánh
Çu°I quân Chúa NguyÍn. NguyÍn phúc Ánh bÎ Çánh bÆt ra khÕi ÇÃt Gia ñÎnh,
chåy vè Råch Giá, låi bÎ quân Chân Låp ( Cao Miên ) Çu°I b¡t, phäi bôn
Çào ra Çäo Phú quÓc. Giám møc Bá Ça L¶c ÇÜa tÃt cä Chûng sinh sang ÇÃt
Cao Miên.
BÎ thÃt trÆn liên tøc trong mÃy næm liŠn, binh l¿c cûa Chúa
NguyÍn ngày càng suy y‰u, lÜÖng th¿c khô cån dÀn, vì vÆy, Chúa NguyÍn
nÄy ra š ÇÎnh ‘’ nh© ngoåi quÓc y‹m tr® ‘’. Lúc bÃy gi© có nhiŠu thÜÖng
gia và nhà truyŠn giáo ngoåi quÓc ljn tØ : Pha lang sa
( Pháp quÓc ),
Tây ban nha, BÒ Çào nha, Ý Çåi l®i. Trܧc tình hình an ninh bÀt °n
ÇÎnh, hÖn n»a nhà Tây SÖn cÃm Çåo quá nghiêm ng¥t, muÓn cho dÍ dàng
trong viŒc mua bán làm æn, nhÃt là vÃn ÇŠ truyŠn giáo, Giáo sï cÛng nhÜ
thÜÖng gia Tây phÜÖng b¡t tay ngoåi giao v§I Chúa NguyÍn và hÙa së vÆn
Ƕng Chính phû cûa h† tr® giúp cho quân cûa NguyÍn phúc Ánh phøc quÓc.
Vì ñÙc Bá Ça L¶c Çang quän nhiŒm Giáo Çoàn ñàn Trong, nên NguyÍn phúc
Ánh nh© cÆy cÀu viŒn Pháp quÓc và La mã. NguyÍn phúc Ánh Ûy nhiŒm ñÙc Bá
Ça L¶c làm SÙ giä, trao dÃu Ãn VÜÖng triŠu và Çem Hoàng t» Cänh ( Thái
tº NguyÍn phúc Cänh, hÖn 5 tu°I ) theo ÇÍ làm con tin. ñÙc Cha r©i khÕi
ViŒt Nam tØ tháng 2 næm 1785, mãi cho ljn tháng 7 næm 1989m§I trª vŠ låi.
Vì rÃt nhiŠu khó khæn trª ngåi trên vÃn ÇŠ di chuy‹n cÛnh nhÜ do n¶I
tình phÙc tåp cûa nܧc Pháp và Âu Châu lúc bÃy gi©, nên không Çåt ÇÜ®c
sª nguyŒn. Tuy nhiên, nh© vào sÒ tiŠn vÆn Ƕng ÇÜ®c cûa các gia Çình
bà con, bån bè, c†ng thêm s¿ giúp Ç« cûa các th‰ l¿c thÜÖng mãi, ñÙc Cha
Çã mua s¡m m¶t sÓ vÛ khí : súng Óng Çån dÜ®c, chi‰n thuyŠn và m¶ thêm
binh lính ( trong Çó có m¶t sÓ c¿u quân nhân thiŒn chi‰n ) có th‹ bÒi
l¿c cho quân Chúa NguyÍn.
Tình hình Çã thay ǰI thuÆn l®i. Quân Chúa NguyÍn Ánh lÀn
lÜ®t chi‰m låi miŠn nam, Ç¥t T°ng Hành Dinh tåi Tân TriŠu ( ñÒng Nai ).
ñÙc Cha cÛng ch†n ÇÎa Çi‹m Lái Thiêu làm trung tâm Giáo phÆn, Ç¥t Toà
Giám møc và xây toà nhà Chûng viŒn.
Ngày 9 tháng 10 næm 1799, ñÙc Giám møc Bá Ça L¶c ÇÜ®c Chúa
g†i vŠ.
K‹ tØ næm 1802, Vua Gia-Long thÓng nhÃt sÖn hà, tuyên bÓ hûy
bÕ các chi‰u dø cÃm ñåo Công giáo, cho phép các Giáo-sï ÇÜ®c t¿ do
truyŠn ñåo, xây cÃt Thánh-ÇÜ©ng, và các cÖ-sª bác ái, giáo-døc. ñ‰n mæm
1805, ñÙc Cha Gioan Labartette
( 1793-1823 ) k‰ vÎ ñÜc Cha Bá-ña-L¶c (
Pigneau De Béheine ).
K‹ tØ næm 1820, Minh-Mång nÓi nghiŒp Vua,vì ác cäm v§i ngÜ©i
ngoåi quÓc và ñåo Công-giáo nên Vua Çã ra nhiŠu chi‰u dø cÃm ñåo . Næm
1825, Chûng-viŒn Lái-Thiêu Çã phäi d©i sang Pinang, thu¶c Mã-lai-á .
ñ‰n Ç©i Vua ThiŒu-TrÎ ( 1840-1847 ) , ít chú tâm ljn viŒc cÃm cách Çåo
giáo nên Giáo-H¶i VN ÇÜ®c tåm th©i yên °n . Trong th©i gian Çó, ñÎa phÆn
ñàng Trong dܧi quyŠn cai-quän cûa Thánh Giám-møc Têphanô Cuénot ( Th‹ )
( 1840-1861 - Tº ñåo ). Næm 1841, ñÙc Cha Têphanô Th‹ triŒu tÆp
Công-ÇÒng chung toàn Giáo-phÆn, ‡n ÇÎnh các giáo xÙ, mª r¶ng vùng truyŠn
giáo lên miŠn Cao-nguyên, tái thi‰t Thánh ÇÜ©ng, chuôc låi nhÜng ngÜ©i
còn bÎ giam gi», Ç¥c biŒt chú tr†ng viŒc Çào tåo giáo-sï bän xÙ, Ngài
ch†n nÖi nào thuÆn l®i, lÆp nhà Døc-anh Ç‹ Çào tåo thi‰u niên, tuy‹n ch†n
chûng-sinh . Næm 1844, ñÙc Giám-møc xin Tòa Thánh tách phÀn ÇÃt phía
Nam Ç‹ làm Giáo phÆn m§i : Giáo phÆn Tây ñàng Trong ( tÙc Sàigon hiŒn
nay ) Ç¥t dܧi quyŠn chæm sóc cûa ñÙc Cha ñamianô Lefèbre ( Ngãi ) . Næm
1850, tách phÀn ÇÃt Cao-Miên làm Giáo -phÆn Nam-Vang . PhÀn còn låi (
ñÎa phÆn cÛ ) g†i là ñông ñàng Trong gÒm lãnh th° tØ sông Gianh ljn
Phan-Thi‰t . Tòa Giám-møc Ç¥t tåi Nܧc M¥n ( GòThÎ ). Vùng Nܧc M¥n
còn g†i là ThÎ-Nåi là vùng ÇÒng-b¢ng Çông dân trù phú,n¢m doc theo ÇÀm
ThÎ-nåi, chåy dài tØ chân núi TriŠn-châu, Phú-cát ( C»a Cách-Thº )
ljn tÆn c»a khÄu Qui-nhÖn thông ra bi‹n Nam Häi . ThÎ Nåi là ÇÃt cûa
Chiêm-Thành khi xÜa, có tên là Criny Banay, ÇÜ®c phiên âm thành ThÎ-l®i
BÌ-nåi, g†i t¡t làThÎ-Nåi . Gò-ThÎ ( Nܧc M¥n ) khi Çó là nÖi rÃt Çông
Çúc tín-h»u công-giáo . CÛng cÀn nh¡c låi r¢ng tØ khi chia hai ñÎa phÆn
ñông và Tây ñàng Trong, Chûng-viŒn Pi-Næng tr¿c thu¶c vŠ Saigon,
nhÜng Giáo phân Qui-nhÖn vÅn còn gªi ÇÜ®c chûng-sinh vào tu-tÆp .
K‹ tØ 1848, Vua T¿-ñÙc cÃm ñåo ráo ri‰t g¡t gao, công viŒc
truyên bá Phúc Âm cÛng nhÜ sinh-hoåt Tôn giáo ÇÀy khó khæn trª ngåi ,
th©i gian này Çã trª thành m¶t ‘ Th©i tº nån ‘ v§i chu‡i ngày Çau
thÜÖng nhÃt cho Giáo H¶i VN nói chung và Giáo phÆn ñông ñàng
Trong ( Quinhon) nói riêng . ñÃt Çai, vÜ©n tÜ®c, nhà c»a, súc vÆt, mùa
màng cûa ngÜ©i công-giáo, tÃt cä ÇŠu bÎ chi‰m-Çoåt . NgÜ©i công-giáo
tØng nghìn, tØng vån phäi kéo nhau chåy trÓn lên rØng sâu ho¥c chui rúc
dܧi các hÀm thuyŠn lênh-Çênh ngoài bi‹n khÖi, m¶t sÓ Çông bÎ b¡t b§ tù
Çày, chÎu gông cùm xiŠng xích, sau cùng chÎu ch‰t ( xº læng-trì, xº bá
Çao, chôn sÓng, thiêu sinh . . ) vì ñåo Thánh Chúa . Máu Tº-ñåo chäy
nhiŠu nhÃt trong Nam cÛng nhÜ ngoài B¡c trong th©i gian này . ñÜc
Giám-møc Têphanô Cuénot ( Th‹ ) chÎu Tº ñåo næm 1861 . Tòa Giám-møc
Qui-NhÖn bÎ trÓng ngôi trong ba næm, ljn 1864 ñÙc Cha Charbonier ( Trí -
1864-1878 ) k‰ vÎ ñÙc Thánh Giám-møc Th‹, ÇÜ®c m¶t tàu Pháp ÇÜa ljn
Qui-nhon ( LÎch-sû Giáo-H¶i VN cûa LM Bùi-ÇÙc-Sinh OP. trang 364 ).
Chi‰n tranh ViŒt-Pháp ÇÜa t§i Hòa-ܧc Nhâm-tuât ( 5-6-1862
), b¡t bu¶c T¿-ñÙc phäi chÃm dÙt cu¶c bách håi công-giáo . Lúc bÃy gi©
giáo dân løc-tøc trª vê làng quê cûa mÌnh. Nh»ng giáo-sï sÓng sót trª vŠ
nhiŒm sª cÛ cùng con chiên, tái thi‰t giáo xÙ, lÆp låi cu¶c sÓng .
Trª låi vÃn ÇŠ : Chûng-viŒn Làng-sông Qui-nhÖn ÇÜ®c thành lâp
næm 1863 ( ܧc Çoán cæn cÙ theo bän thông-tin Giáo-phÆn Qui-nhon &-
ñà-N¤ng tháng 4 - 1964, nhÜ Çã nêu ª dÀu bài ) ,thì næm 1863 ñÎa phÆn
ñông ñàng Trong ( Quinhon) chÜa có Giám-møc cai-quän chính-thÙc ( ñÙc
Cha Th‹ tº Çåo næm 1861 - ñÙc Cha Trí næm 1864 m§i ljn nhÆm sª ) . Tuy
nhiên, ch¡c ch¡n là phäi có m¶t Linh-møc BŠ-trên giám-quän ( chÜa có
tài liŒu nào cø th‹ ). Có th‹ phÕng ÇÎnh r¢ng : Th©i gian mà các Giáo
phÆn ÇÜ®c yên tÎnh, ÇŠu phäi cÓ g¡ng tái lÆp sinh hoåt, tái thi‰t
giáo -xÙ, xây d¿ng cÖ sª, chûng-viŒn . . và nhÜ vÆy Giáo-phÆn ñông
ñàng Trong cÛng phäi trên Çà phát tri‹n d¿a theo lÜ®c ÇÒ cûa Thánh
Giám-møc Têphanô ThŠ Ç‹ låi .
Næm 1883 Vua T¿-ñÙc ch‰t, TriŠu-Çình rÓi ren, phäi kš Hòa-ܧc
1883, rÒi 1884 công nhÆn quyŠn bäo-h¶ cûa nܧc Pháp . NhÜng ljn næm sau,
1885, phong-trào Væn Thân n°i lên, kéo nhau Çi quÃy phá các làng có
ngÜ©i công-giáo, tái diÍn cu¶c bách håi tàn båo hÖn trܧc . Tåi
ñÎa phÆn ñông ñàng Trong, ñÙc Cha Van Camelbeke ( Hân -1884-1901) phäi
chÙng ki‰n nh»ng cu¶c bách håi khûng khi‰p nhÃt cûa Væn Thân : 8
Linh-møc ThØa sai, 5 Linh-møc ViŒt, 60 ThÀy Giäng, 170 N» tu và trên
25 ngàn tín-h»u bÎ sát håi, trên 200 Thánh ÇÜ©ng và nhà nguyŒn,
cô-nhi-viên, Tu-viên ÇŠu bÎ thiêu hûy . TØ næm 1888, nån Væn Thân ÇÜ®c
dËp yên, Giáo H¶i VN, các Giáo phÆn ÇÜ®c trª låi th©i an-bình, cÓ g¡ng
xúc ti‰n công viŒc cûng-cÓ ñÙc Tin, ki‰n thi‰t giáo xÙ và xây d¿ng các
cÖ-sª . M¶t tài liŒu cûa tòa Giám-møc Qui-nhÖn ghi nhÆn r¢ng : Sau Væn
Thân, Tòa Giám-møc và cÖ sª Nhà Chung ÇÜ®c xây d¿ng låi næm 1891,
Ti‹u Chûng-viŒn Làng-Sông ÇÜ®c xây cÃt næm 1892 và ñåi Chûng-viŒn ñåi-
An næm 1893 .
Danh hiŒu Ti‹u Chûng-viŒn Làng-Sông Çä nói rõ ÇÎa di‹m t†a lac .
Tài liŒu còn cho bi‰t Ti‹u Chûng-viŒn n¢m k‰ cÆn khuôn viên Tòa
Giám-møc, nhÜ vÆy kh£ng ÇÎnh ÇÜ®c r¢ng : Tòa Giám-møc và cÖ sª Nhà Chung
cÛng ÇŠu n¢m tåi khu v¿c Làng-Sông . Còn N» Tu-viên M‰n Thánh Giá,
cô-nhi-viŒn vÅn tåi giáo-phû cÛ Gò-ThÎ . K‹ tØ Ç©i ñÙc Cha Hân (
Camelbeke) Chûng-viŒn ÇÜ®c chính thÙc °n ÇÎnh cÖ sª. Chûng-viŒn chia
ra làm hai cÃp : CÃp nhÕ là Ti‹u Chûng-viŒn tåi Làng-Sông ( Xã
Phܧc-ThuÆn, Tuy-Phܧc ), nÖi Çào tåo ti‹u Chûng-sinh ( g†i là Chú ) vŠ
phÜÖng-diŒn ÇÙc-døc, trí-døc và th‹-døc, nhÃt là trau dÒi vŠ sinh-ng»
La-tinh . CÃp l§n, Çåi Chûng-sinh ( hay ThÀy
) tåi ñåi Chûng-viŒn ñåi-An ( xä Cát NhÖn, Phù-Cát ) tu-tÆp vŠ Tri‰t
h†c, ThÀn h†c . . . Trܧc khi có ñåi Chûng-viŒn, Chûng-sinh phäi gªi
sang h†c tai Chûng-viŒn Pinang .
K‰ vÎ ñÙc Cha Hân là ñÜc Giám-møc Damianô Grangeon ( MÅn-
1902-1930). Ngài chú tr†ng ljn công trình ki‰n trúc Çúng nghïa các cÖ
sª cûa Giáo phÆn mà trܧc Çó, ñÙc cÓ Giám-møc tiŠn nhiŒm m§i chÌ tåm
th©i thi‰t låp . Næm 1904, ñÙc Cha gªi Cha Maheu ( CÓ MÏ ) sang
HÒng-Kông nghiên cÙu nhà In Nazareth rÒi vŠ thi‰t lÆp m¶t nhà in tai
Làng-Sông Ç‹ in sách Kinh, sách Giáo-lš, sách giáo-døc, thÜ chung møc-vø,
thông cáo cûa Tòa Giám-møc, bän Thông tin cûa Giáo-phÆn (
Mémorial ) . . Næm 1925, ñÙc Cha cho xây cÃt låi Ti‹u Chûng-viŒn gÒm
hai gian nhà gåch,l®p ngói, dài, có tÀng lÀu, thay th‰ 4 dãy nhà tranh
cÛ . Công viŒc xây cÃt trong vòng hai næm và ngày 21 tháng 9 næm
1927, LÍ Khánh-thành Tân Chûng- viŒn ( nhÜ Çã ÇŠ cÆp nÖi phÀn ÇÀu ).
Mémorial ñÎa phÆn næm Çó ghi nhÆn là do công khó cûa Cha
Gagnaire ( CÓ ñÎnh ), Giám-ÇÓc Chûng-viên ÇÒng th©i cÛng là phó BŠ trên
ñÎa -phÆn ( Vice-Provicaire ) . Ki‰n-trúc-sÜ là Cha D' Orgeville
( CÓ SÏ
) và quän ÇÓc xây cÃt là ThÀy Hòa ( H¶i ThÀy Giäng ) .
Trܧc kia, tuy‹n sinh ÇÜ®c thu nhÆn vào tu tÆp tåi Ti‹u
Chûng-viŒn, cÙ ba ho¥c hai næm m¶t Ç®t, nhÜng tØ khi Chûng-viŒn có
cÖ-ngÖi r¶ng l§n, tiŒn-nghi, b¡t ÇÀu tØ næm 1930 (?) m‡i næm ÇŠu có
nhÆn m¶t l§p m§i , sï sÓ m‡i l§p cÛng càng Çông hÖn . Ti‹u
Chûng-viên gòm có 8 l§p, tính tØ l§p Tám ljn l§p nhÃt . Các l§p 8+7 và
6, g†i là chú nhÕ,sº døng cæn lÀu phía Tây . TØ l§p 5 ljn l§p nhÃt, goi
là chú l§n, sº døng cæn nhà phía ñông . M‡i bên ÇŠu có phòng ngû,
phòng h†c ( riêng cho tØng l§p ), nhà chÖi, sân chÖi, nhà vŒ sinh riêng
,sinh hoåt riêng, còn Nhà Th© ( džc kinh, xem LÍ, chÀu Thánh Th‹) và
giäng-ÇÜ©ng chung . Vì trên ñåi Chûng-viŒn, tÃt cä sách h†c vŠ
Tri‰t-h†c và ThÀn-h†c ÇŠu b¢ng ti‰ng La-tinh, nên b¡t ÇÀu tØ l§p 6 Çã
phäi chuyên h†c vŠ La ng» . Giám-ÇÓc Ti‹u Chûng-viŒn còn g†i là Cha
BŠ-trên, th©i trܧc ÇŠu làcác Cha Pháp : Cha Gagnaire ( CÓ ñÎnh ), ljn
Cha Guillaume ( CÓ Yên ), sau là Cha Joseph Clause ( CÓ HÒng ) . Giáó
sÜ các l§p gòm vài Cha Tây và Ça phân là các Cha ViŒt. Ngoài ra còn có
ba Thây, m¶t giám-thÎ cho chú lón, m¶t giám-thÎ cho chú nhÕ và m¶t làm
phø-giáo ( Ba ThÀy này ÇÜ®c tuy‹n ch†n trong sÓ các ThÀy mãn Tri‰t-lš
và ra Çi giúp xÙ, th¿c tÆp trong 2 næm ).
ñ‰n Ç©i ñÙc Cha Augustin Tardieu ( Phú, 1930-1942 ), Tòa
Giám-møc låi ÇÜ®c ÇÜa vŠ Qui-nhÖn . Qui-nhÖn, trܧc næm 1900, chÌ là m¶t
däi dãi phù sa, có m¶t sÓ ngÜ-phû cÜ ngø g†i là làng Chánh-thành . Vì
lúc bÃy gi© chÜa có phÜÖng tiŒn giao thông, chi có ÇÜ©ng thûy là thuÆn
l®i, Qui-nhÖn có c»a khÄu thông ra bi‹n, có ÇÀm ThÎ-nåi nên ghe thuyŠn
buôn bán tiŒn l®i tÃp nÆp, các thÜÖng gia Hoa-kiŠu ( Trung-Hoa ) Çã
bi‰n thành thÜÖng-khÄu Ç‹ hành nghŠ thÜÖng måi . B¡t ÇÀu Th‰-k› 20,
bãi cát Chánh-Thành hóa ra m¶t thÜÖng-khÄu phÒn thÎnh, ngÜ©i dân tÃp nÆp
ljn cÜ ngø buôn bán làm æn, do vây mà có danh tØ Qui nhÖn ( Theo chÛ
Hán : Qui là vŠ còn NhÖn là ngÜÖi ),và tØ Çó bi‰n thành ÇÎa danh cho
khu trù phú m§i . Sau Çó, Chính-quyŠn Bäo-h¶ Pháp thi‰t lÆp cÖ sª cûa
tòa Khâm-sÙ và các cÖ quan tr¿c thu¶c . Næm 1925, Chính quyŠn Nam
triŠu TÌnh Bình-ñÎnh ( T°ng-ÇÓc, BÓ-chính, Án-sát, Lãnh-binh ,ÇÒn KhÓ
Xanh, Lao-xá . . ). cÛng d©i cä vŠ Qui nhÖn . Trong báo cáo thÜ©ng
niên vŠ Tòa Thánh næm 1931, ñÙc Cha Phú (Tardieu) ghi nhÆn r¢ng :
‘’Chúng tôi thi‰t nghï Giáo phÆn Qui-nhÖn r¶ng l§n, m¶t ngày nào Çó
së chia thành ba hay bÓn Giáo-phÆn và b«i vì vÎ trí trung tâm
nên Chûng-viŒn tåi Qui-nhÖn trong tÜÖng lai së là m¶t
Chûng-viŒn MiŠn ‘’ . CuÓi tháng 6 næm 1933 dÎp khánh-thành tòa
nhà ñåi Chûng-viŒn, Çã t° chÙc LÍ phong chÙc cho khóa tân Linh-møc
tåi nhà nguyŒn ñåi Chûng-viŒn ( lÀn ÇÀu tiên ) cho các Cha
TrÎnh-hoài-Ân, NguyÍn-Bàng, NguyÍn-thanh-Long, Châu-PhÆn và
DÜÖng-tÃn-Quá. Lúc Çó Tòa Giám-møc m§i ÇÜ®c khai móng, còn nhà th© Chính
tòa Qui-nhÖn quá nhÕ và ljn næm 1939, nhà th© Chính Tòa xây cÃt låi mÖi
ÇÜÖc hoàn thành . Ti‹u Chûng-viŒn vÅn n¢m tåi Làng-Sông .
Ngày 9 tháng 3 næm 1945, NhÆt Çäo chính Pháp . TÃt cä Linh møc
thØa sai ngÜ©i Pháp, k‹ cä ñÙc Giám-møc ÇÜÖng nhiŒm, ñÜc Cha Michel
Piquet ( L®i ) ÇŠu bÎ tÆp trung ÇÜa vào Nha-Trang . Giám-ÇÓc
Chûng-viên ÇÜ®c bàn giao lai cho Linh-møc DÜÖng-tÃn-Quá. Tháng 8 næm
Çó ViŒt minh cܧp chính quyŠn , quân-Ƕi Pháp ÇÜ®c tái võ-trang
xâm lÜ®c . Næm 1946, lŒnh toàn quÓc kháng chi‰n ( chi‰n tranh
ViŒt-Pháp ),Thành phÓ Qui-nhÖn bÎ b¡t bu¶c phäi di tän Ç‹ tiêu th°
. ñai Chûng-viŒn phäi dòi vŠ Làng-Sông . Cæn nhà phía
Tây cûa chú nhÕ ÇÜ®c dành m¶t nºa Ç‹ nhÜ©ng cho các ThÀy sº døng . M¶t
sÓ chú nhÕ ª các Tinh Khánh-Hòa, Phan-Rang, Quäng-Nam vŠ nghÌ Hè, bÎ kËt
không th‹ vŠ h†c . Quân Ƕi Pháp chi‰m låi vùng Saigon và các vùng
Nha-Trang, ñà-N¤ng . ñÜc Cha L®i giám quän nh»ng vùng Pháp Çã chi‰m Çóng
. Còn tÜ cÀu Bà-Rén ( Quäng-Nam) vào ljn Tuy-Hòa ( PhúYên ) do chính
quyŠn ViŒt Minh c†ng-sän ki‹m soát, goi là Liên-khu V . Tòa Thánh Ç¥t
Cha ñ¥ng-quyŠn-Huy Giám quän Tông Tòa
Næm 1946 ñÙc Cha Piquet ( L®i ) mÜ®n trÜ©ng h†c TÃn-Tài thu¶c
Giáo xÙ Dinh-Thûy, Phan-Rang Ç‹ làm Ti‹u Chûng-viŒn tåm th©i cho các
Chûng sinh ª vùng QuÓc Gia ki‹m soát vào ti‰p tøc h†c và tuy‹n thêm
l§p m§i . Riêng Chûng viŒn Làng Sông, m¥c dù bÎ Çinh trŒ vài tháng,
nhÜng cÛng ti‰p tøc mª c»a dón nhÆn Chûng sinh vào h†c . Cho ljn ÇÀu næm
1952, Chûng viŒn hoàn toàn bÎ Çóng c»a . Nh»ng næm sau Çó, sÓ Ti‹u
Chûng sinh bÎ kËt trong vùng Liên khu V (ViŒt Minh ki‹m soát ) trܧc
Çây ( 1950 ), m¶t sÓ trÓn thoát ÇÜ®c vào Nha-Trang , m¶t ít ÇÜ®c DÙc Cha
thu nhÆn cho ti‰p tøc tu-trình Linh møc; sÓ n»a trª vŠ cu¶c sÓng gia
Çình . HÀu h‰t sÓ Chûng sinh bÎ kËt ª vùng ViŒt Minh không trÓn Çi ÇÜ®c
ÇŠu nän lòng ch© Ç®i và hòa mình vào cu¶c Ç©i trÀn tøc .
Næm 1954, HiŒp ÇÎnh Genèves chia Çôi ÇÃt nܧc, tØ sông Bên Häi,
vï tuy‰n 17 trª vào thu¶c Chính quyŠn QuÓc-gia, nhÜng mãi ljn tháng
5-1955 b¶ Ƕi ViŒt Minh m§i triŒt thoái h‰t .
Tháng 9-1955 Ti‹u Chûng viŒn Làng sông mª c»a trª låi, nhÜng
Chûng sinh cÛ không còn n»a, thu nhÆn lÖp h†c sinh m§i , g†i là L§p NhÃt
(Supérieur) chuÄn bÎ cuÓi næm thi b¢ng Ti‹u h†c . ( Còn m¶t ít ThÀy vào
trình diŒn ñÜc Giám-møc ñÎa phÆn, nhÜng bÎ ñÙc Cha tØ chÓi, chÌ có hai
ThÀy kiên nhÅn dã ÇÜ®c DÙc Cha Phåm-ng†c-Chi g†i låi và Çã lãnh chÙc
Linh møc là Cha NguyÍn-quang-Báu và Cha NguyÍn-thanh-HuŒ (ThÃt)). Th©i
gian này Ti‹u Chûng viŒn TÃn Tài vÅn còn ÇÜ®c duy trì và Çã ÇÜ®c d©i vŠ
Nha-Trang .
K‹ tØ niên khóa 1956 , TiŠu Chûng viŒn chÌ còn h†c có
7 næm theo chÜÖng trình cûa B¶ QuÓc-gia giáo-døc VNCH . H†c- sinh ÇÜ®c
tuy‹n vào sau khi Çã có b¢ng Ti‹u h†c , và b¡t ÇÀu tØ l§p ÇŒ thÃt ( ÇŒ
løc, ÇŒ ngÛ, ÇŒ tÙ, thu¶c Trung h†c ÇŒ nhÃt cÃp ) , sau Çó lên ÇŒ tam,
ÇŒ nhÎ và ÇŒ nhÃt ( Trung h†c ÇŒ nhÎ cÃp) . ñÀu tiên Cha Hoàng (Quàng
ngãi ) làm Giám ÇÓc (1955-56), ljn Cha NguyÍn-công-NghÎ ( 56-58 ), rÒi
ljn Cha Huÿnh-væn-Hóa ( 58-60 ); sau Çó Cha Võ-ng†c-Nhã (60-62) rÒi Cha
Huÿnh-kim-Læng (1962 - )
.
Tháng 7 næm 1957, Tòa Thánh chia thêm DÎa phÆn m§i Nha-Trang gÒm
hai TÌnh Khánh Hòa và Ninh Thuân,và ñÙc Giám møc Piquet (L®i) giám
quän .Giáo phÆn Qui NhÖn còn lai 5 Tinh (Quäng Nam, Quäng Tín, Quäng
Ngãi, Bình ñÎnh và Phú Yên) Ç¥t dܧi quyŠn cai quän cûa ñÙc Giám-møc
Phåm-ng†c-Chi .
M¶t bi‰n cÓ quan tr†ng sau 4 th‰-k› truyŠn giáo VN là ngày
21 tháng 12 næm 1960 ,ñÙc ThánhCha Gioan XXIII qua Tông chi‰u
Venerabilium nostrorum, thi‰t lÆp PhÄm TrÆt H¶i Thánh tåi ViŒt Nam.
Tháng 1 næm 1963, hai TÌnh Quäng Tín, Quäng Nam và Thành phÓ ñà N¤ng
ÇÜ®c tách ra Ç‹ lÆp Giáo phÆn m§i mang tên ñà N¤ng , trách nhiŒm chæn
d¡t giao cho ñÙc Cha Pham-ng†c-Chi . Giáo phÆn Qui NhÖn chÌ còn låi 3
TÌnh Quäng Ngãi Bình ñÎnh và Phú Yên ÇÜ®c ñÙc Cha Daminh
Hoàng-væn-ñoàn Çäm trách .
Tháng 11 næm 1963, Quân Ƕi do Tܧng DÜÖng-væn-Minh cÀm ÇÀu
làm cu¶c Çào chánh lÆt ǰ TÕng ThÓng Ngô-Çình-DiŒm . TØ nh»ng tháng cuÓi
næm 1963 và ÇÀu næm 1964, tình hình chính trÎ trong nܧc bÎ xáo tr¶n do
nh»ng vø chÌnh lš, Çäo chính và nh»ng cu¶c xuÓng ÇÜ©ng cûa các l¿c
lÜ®ng chÓng ÇÓi, nhÃt là nhóm ƒn-quang . Tình hình an-ninh lãnh th° do
vÆy trª nên trÀm tr†ng, c†ng quân miŠn B¡c xâm nhÆp liên k‰t v§i du kích
cûa cái g†i là M¥t trÆn Dân t¶c Giäi phóng MiŠn nam, xâm lÃn chi‰m cÙ
m¶t sÓvùng nông thôn . Dân chúng thôn quê mÃt an ninh phäi di tän vŠ
các QuÆn lœ và ThÎ xã. Niên khóa 1964 Ti‹u Chûng viŒn phäi r©i Làng
sông , vì cÖ sª trÜ©ng Bình L ®i quá nhÕ không Çû ch‡ dung nåp nên các
l§p nhÕ (ÇŒ nhÃt cÃp) còn tåm thòi n¢m låi Làng sông th©i gian. Còn
các l§p l§n ( ÇŒ nhÎ cÃp ) d†n vŠ Qui NhÖn,Ç¥t tåi trÜ©ng Bình L¶i La
San cånh Nhà th© Chính tòa . . TrÜ©ng Dòng La San d†n vŠ tai cÖ sÖ
ñåi Chûng viŒn Qui-Häi . T rong th©i gian Chûng viŒn chia Çôi
h†c sinh , Cha Huÿnh-kim-Læng vŠ Qui-nhÖn, Cha NguyÍn-thanh-Bình tåm
th©i làm BŠ trên Ti‹u Chûng viŒn tåi Làng sông . Cha Quàng lš ñÎa phÆn
(NguyÍn-SÒ) Çã cho tåm d¿ng lên thêm nh»ng láng tråi vách g‡ ván ép,
mái tôle , làm nhà nguyŒn , nhà cÖm , nhà chÖi , phòng h†c . . ñ‰n
næm sau, tÃt cà Ti‹u Chûng sinh ÇŠu ÇÜ®c tÆp trung cä vŠ Qui-nhÖn
..TØ Çó Ti‹u Chûng viŒn không còn mang danh xÜng là Làng-sông n»a, mà
danh hiŒu m§i ‘’ Chûng viŒn Qui-nhÖn ‘’ . Riêng cÖ sª Làng Sông
không còn là nÖi lÜu h†c cho Ti‹u Chûng sinh n»a . CuÓi næm 1964,
b¶ Ƕi B¡c ViŒt Ƕt phá b¡n bazôka vào làm sÆp mÃt cÀu thang phía tây
và hÜ håi m¶t sÓ cÜã nhÜng may m¡n không có thÜÖng vong vŠ nhân mång .
( ñ‰n næm 1970, Làng sông bÎ ViŒt c†ng Ƕt nhÆp m¶t lÀn n»a làm hÜ
håi khá næng gian nhà phía Çông . )
-. Næm 1966 Cha Læng xin tØ nhiŒm Giám ÇÓc vì lš do sÙc khÕe, Cha
TrÎnh-hoài-Ân tåm gi» chÙc Giám-ÇÓc Chûng viŒn Ç®i Cha Huÿnh-Çông-Các
du h†c ª Hoa-Kÿ trª vŠ . Cha Læng vÅn còn danh nghïa HiŒu trܪng . Næm
1967, Cha Huÿnh-Çông-Các ÇÜ®c b° nhiŒm làm Giám ÇÓc Chûng viŒn Qui-nhÖn
.K‹ tØ 1967, Chûng viŒn låi phäi thay ǰi thÙ t¿ l§p h†c theo chû trÜÖng
m§i cûa B¶ QuÓc gia giáo-døc ÇŒ nhÎ C†ng Hòa , nghïa là l§p ÇŒ thÃt trª
thành l§p 6 và tính lên cho ljn l§p 12 .(ÇŒ nhÃt cÛ)
Næm 1868, Cha giám ÇÓc Huÿnh-Çông-Các khªi công ki‰n thi‰t låi
Chûng viŒn . LÜ®c ÇÒ ki‰n trúc do ThÀy Dòng ñÒng Công vë. Kinh phí xây
cÃt do ñÙc Giám-møc Hòang-væn-ñoàn tài tr® m¶t phÀn, phÀn còn låi do Cha
Huÿnh-Çông-Các vÆn Ƕng ª các ân nhân . Công trình xây d¿ng Çã ÇÜ®c
hoàn thành vào næm 1972 . CÖ sª gÒm có : tÀng trŒt và ba tÀng lÀu, tiŒn
nghi ÇÀy Çû. Dï nhiên, Çây là Trung tâm Çào tåo Chûng sinh, nhÜng còn
ÇÜ®c sº døng nhÜ m¶t Trung tâm møc vø trong nh»ng kÿ Hè . Tåi Çây Çã mª
nh»ng khóa Çào tåo giáo viên các trÜ©ng công lÆp v§i s¿ bäo tr® cûa ViŒn
ñåi h†c Công giáo ñà Låt; Giäng viên là các giáo sÜ trÜ©ng Cao Ç£ng SÜ
phåm Qui-nhÖn . M‡i næm giáo sinh ÇÜ®c tu nghiŒp m¶t môn chính nhÜ QuÓc
væn, Toán và m¶t môn phø . TÃt cä Çã ÇÜ®c 5 khóa, khóa Hè 1974 là
khóa sau cùng .
CÛng trong giai Çoån này,vì cÖ sª ñåi Chûng viŒn giao cho
các Thày Dòng La-San xº døng nên chûng sinh sau khi mãn Ti‹u Chûng viŒn
phäi ra giúp xÙ, th¿c tÆp 2 næm trܧc Çã, sau Çó m§i vŠ ñåi Chûng viŒn
vào Tri‰t h†c ( trܧc Çó vào ñåi Chûng viŒn h†c xong 2 næm Tri‰t rÒi
m§i ra th¿c tÆp) . SÓ các ThÀy vŠ ThÀn h†c ÇÜ®c gªi ljn các ñåi Chûng
viŒn Giáo Hoàng H†c viên Dà-Låt, ho¥c ñCV Xuân Bích ( Hué ) hay Chûng
viŒn Hòa Bình ñà-N¤ng ( chi nhánh cûa Xuân Bích).
Næm 1972, các ThÀy Dòng c° tr¡ng Lasan d†n cä vŠ Nha Trang trao
trä ñåi Chûng viŒn låi cho Giáo phÆn, ñÙc Cha Hoàng-væn-ñoàn dùng
cÖ sª này thi‰t lÆp m¶t trÜ©ng Trung h†c: công-giáo :’ TrÜ©ng Vi
Nhân ‘ . Cha Huÿnh-kim-Læng ÇÜ®c ÇŠ cº làm Giám ÇÓc kiêm HiŒu trܪng .
Næm 1974, Cha Huÿnh-Çông-Các ÇÜ®c Tòa Thánh tråch cº làm
Giám-møc Giáo phÆn Qui-nhÖn, Giám ÇÓc Ti‹u Chûng viŒn ÇÜ®c giao cho Cha
Huÿnh Tòa .
CuÓi tháng 4 næm 1975, C†ng sän miŠn B¡c thôn tính cä miŠn Nam,
Chính th‹ ViŒt Nam C¶ng Hòa bÎ søp ǰ . Chûng viŒn vì vÆy mà cho nghÌ
hè s§m . VÖi chính sách cûa c†ng sän , tài sän cûa Giáo phÆn bÎ
chi‰m Çoåt . Vì tài chánh bÎ kiŒt quŒ, næm h†c 1975 , Ti‹u Chûng
viŒn tuy có mª c»a, nhÜng chÌ nhÆn có 2 l§p ( 11 và 12 ). Ti‰p sau Çó,
Cha Tòa Çi theo di tän ra nܧc ngoài, Cha Huÿnh-Çæc-Nhì ÇÜ®c ñÙc
Cha chÌ ÇÎnh làm Giám ÇÓc thay th‰ .
Næm 1976, l§p 12 mãn, chÌ còn có l§p 11 lên 12 , Ñy ban Nhân dân
TÌnh Bình ñÎnh yêu cÀu ñÙc Giám-møc cho chính quyŠn mÜ®n cÖ sª Chûng
viŒn Qui-nhÖn Ç‹ làm ‘ Cung Thanh-niên ; cûa TÌnh, ñÙc Cha Phao Lô
không ÇÒng š vì tòa nhà t†a-låc sát cånh nhà th© Chính Tòa, s¿ Òn
ào không thích h®p v§I s¿ tôn nghiêm cûa Thánh ÇÜ©ng .
ñ‰n niên khóa næm 1977, hai l§p sau cùng cûa Ti‹u Chûng
viŒn cÛng Çã mãn chÜÖng trinh. Tuy vÆy phäi ª låi tåi Çó Ç‹ gi» gìn
cÖ sª . K‹ tØ Çó, Ti‹u Chûng viên Qui-nhÖn không còn chûng sinh n»a .
Các ñåi Chûng viŒn Xuân Bích, ñà Låt, Hòa Bình cÛng lâm vào cänh phäi Çóng
c»a . Các ThÀy ÇÜ®c gªi Çi h†c các nÖi Çóm, phäi trª vŠ låi Giáo phÆn .
Lúc bÃy gi© tåm th©i chia ra làm 3 ÇÎa Çi‹m tu tÆp : M¶t sÓ ( l§p l§n)
ª tåi ñCV Qui-häi do Cha Nguy‹n Soån làm Giám-ÇÓc, M¶t sÓ (l§p nhÕ hÖn)
vŠ låi Làng sông do Cha Huÿnh-thanh-KhÜÖng giám quän, m¶t sÓ vào tåi
Long-mÏ vÖi Cha NguyÍn-tri-PhÜÖng ,Còn låi hai l§p nhÕ nhÃt m§i vào ThÀy
vÅn ª nguyên tai cÖ sª Ti‹û Chûng viŒn v§i Cha Huÿnh-Ç¡c-Nhì . M‡i nÖi
ÇŠu vØa h†c vØa phài t¿ l¿c cánh sinh : Làng sông làm Çia cá, Long
MÏ (Phú Tài) lo canh tác, còn nhóm Qui nhÖn lúc ÇÀu chåy xe ba gác,
nhÜng sau Çó bÎ Chính quyŠn cÃm Çoán phäi xoay qua làm ru¶ng muÓi . v .
v . .
CÛng có mÃy ThÀy ÇÜ®c ra giúp xÙ tåi Phú Yên và Quäng Ngãi .
Kéo dài ÇÜ®c m¶t th©i gian, NhiŠu l§p Çã h†c h‰t chÜÖng -trÌnh ñåi
Chûng viŒn, nhÜng nhà nܧc c†ng sän không cho ÇÜ®c phong chÙc . Næm
1980 ,chính phû chÌ cho m‡i MiŠn có hai Chûng viŒn, Giáo TÌnh MiŠn Trung
chÌ có Hué và Nha Trang m§i dÜ®c có Chûng viŒn .Cæn cÙ theo Çó, næm
1983, Tô-Çình-CÖ, chû tÎch tÌnh Bình-ÇÎnh ra lŒnh dËp bÕ Chûng viŒn tåi
Qui NhÖn, và nhÜ vÆy cä ñåi lÅn Ti‹u Chûng viên ÇŠu bÎ giäi th‹ .
Ai cÛng bi‰t, Chûng viŒn Qui-nhÖn là công trình ki‰n tåo
cûa ñÙc cÓ Giám-møc Phao Lô Huÿnh-Çông-Các . VÆn Ƕng tiŠn båc Ç‹ Çû
xây cÃt Çã là m¶t viŒc l§n lao, song bäo quän, nhÃt là gi» ÇÜ®c không bÎ
quÓc -h»u hóa là viŒc còn khó khæn hÖn . Trong mÃy næm nay,
Chûng viŒnQui-nhÖn là nÖi dØng chân cho nhÛng Çoàn hành hÜÖng ho¥c Çi
vi‰ng m¶ Thánh NguyÍn-kim-Thông tåi Gò-ThÎ, hoæc Çi vi‰ng ÇŠn th© ñÙc
Thánh Giám-møc Têphanô Th‹ ª Vinh-Thånh ,ho¥c Çi vi‰ng Linh ÇÎa ñÙc MË
Trà-KiŒu hay Thánh-ÇÎa ñÙc MË La-Vang . ChÜa nói ljn nÖi Çó còn
là ch‡ lÜu trú cho các Linh møc toàn Giáo phÆn h¢ng tháng vŠ tïnh tâm
và h¢ng næm vŠ cÃm phòng .
Tháng 8 næm 1999, tåi nÖi Çây Çã diÍn ra 2 cu¶c LÍ l§n nhÃt
cûa Giáo phÆn : Ngày 11 LÍ MØng Ngân Khánh Giám-møc cûa ñÙc Cha Phao
Lô và ngày 12, LÍ TÃn phong Giám-møc cho ñÙc Cha NguyÍn Soån , Giám-møc
ÇÜÖng kim Giáo phÆn Qui-NhÖn .
Theo d¿ tính cûa ñÙc Cha Soån thì Çây së là m¶t Trung tâm
Møc vø trong tÜÖng lai gÀn.
ñ‹ k‰t thúc, xin mÜ®n tâm tinh cûa ñÜc Giám møc Qui-NhÖn
trong thÜ ÇŠ ngày 6 tháng 4 næm 2002 gªi cho Thân-hºu QN häi
ngoåi , ñÙc Cha Üu ái r¢ng : ‘’
M‡i næm vào ngày LÍ kính Thánh Giu-Se
, các c¿u Chûng sinh Làng
sông Qui- nhÖn xa gÀn ÇŠu tø h†p
nhau Ç‹ giao lÜu . Ngày Çó có Thánh LÍ , ôn låi quá khÙ thân thÜÖng và
qui tø ch£ng nh»ng các c¿u h†c viên mà còn cä gia
Çình v® con cûa các anh . ñiŠu này nói lên phúc lành cûa Thiên Chúa dành
cho nhÛng ai Çã tØng sÓng dܧi mái trÜ©ng thân yêu này . NgÜ©i làm
Giám-møc , ngÜ©i làm Linh-møc , kÈ có Çôi bån , kÈ sÓng Ƕc thân , tÃt
cä ÇŠu ÇÜ®c rèn luyŒn nÖi Çây ÇÈ trª nên h»u ích cho Chúa , cho Giáo H¶i
, cho các gia-Çình không phân biŒt ngôi thÙ,Ç£ng cÃp hay ÇiŠu kiŒn sÓng
. NhÜ vÆy, Làng Sông nay không phäi Çi vào dï vãng , mà trª nên ‘ ALMA
MATER ‘ , ngÜ©i MË thân thÜÖng, trª nên bi‹u trÜng cho tình Chúa nhÆp th‹
nÖi chúng ta , nay lan r¶ng kh¡p muôn nÖi, vÜ®t qua m†i biên gi§I Ç‹
mang tinh thÀn huynh ÇŒ th¡m thi‰t Çên cho m†i ngÜ©i .
‘’ ./-
TIỂU CHỦNG VIỆN LÀNG SÔNG VÀ TIỂU CHỦNG VIỆN QUY NHƠN
QUA DÒNG THỜI GIAN
Lm Võ Đình Đệ
Lời giới thiệu:
Cuối năm 2006, từ Philippines, tôi có viết một trang mời gọi hướng về kỷ
niệm 150 năm Chủng Viện Làng Sông và đã được đăng vào Nội San CCS/LSQN.
Ý tưởng ấy dựa trên kỷ niệm mừng 100 năm (1964). Hơn một tháng qua, được
về lại Giáo Phận, tôi có dịp đọc lại lịch sử Giáo Phận, trong đó có bài
sau đây của cha Gioan Võ Đình Đệ đặt vấn đề về thời điểm khai sinh Chủng
Viện Làng Sông. Theo đó, có sử liệu cho biết năm 1850 hai chủng viện
Làng Sông và Mương Lở đã có 60 chủng sinh. Như vậy, đến nay Làng Sông đã
có trên 157 năm lịch sử. Xin gởi đến quý cha và anh chị em bài này để
chúng ta rõ hơn về cội nguồn. Nhân tiện, cũng xin đính chính một chi
tiết trong bài hướng tới 150 năm nói trên, trong đó tôi đã viết sai giáo
phận Đông Đàng Trong thành Tây Đàng Trong. Xin thành thật cáo lỗi. Thân
ái chào quý cha và anh chị em.
Lm Gioan Phêrô Võ Tá Khánh
Con người có cố có ông
Như cây có cội như sông có nguồn.
Có những dòng sông phát nguyên từ nguồn không dài lắm. Có những dòng
sông phát nguyên từ nguồn xa thăm thẳm. Chủng Viện Làng Sông đã từng
trải qua dòng chảy thời gian khá lâu dài. Ngày 14-01-1964, Chủng Viện
Làng Sông hiệp với Giáo Hội hoàn vũ mừng kỷ niệm 400 năm ngày công đồng
Tridentinô quyết định thành lập các Chủng viện để đào tạo linh mục1,
nhân dịp nầy cũng đặc biệt mừng 100 năm thành lập chủng viện Làng Sông.
Đại lễ kỷ niệm được kể lại: “... Ngày 14, từ 7 giờ sáng, quý khách đã
bắt đầu tới. 8 giờ 40 thì hai Đức Cha Quy Nhơn và Đà Nẵng đến cùng với
các Cha Chính Quy Nhơn, Kontum và nhiều Cha khác......... 9 giờ 10,
Chủng sinh rước hai Đức Cha vào nhà thờ... Bài giảng Thánh lễ của Đức
Cha Quy Nhơn đã làm cho cử toạ chú ý. Đức Cha đã trình bày hai điểm
chính: Sắc lệnh công đồng Tridentinô thiết lập các Chủng viện và lịch
trình tiến triển của Chủng viện Làng Sông.... ”2.
Sự kiện lịch sử mừng kỷ niệm 100
năm thành lập Chủng Viện Làng Sông đã được ghi lại trong ký ức của những
‘người đương thời’ mừng lễ, nay vẫn còn sống, và trên giấy trắng mực đen
cho hậu thế được tường. Ngoài tài liệu kể trên, khi được tiếp cận với
những tài liệu khác có liên quan đến Chủng Viện Làng Sông, chẳng hạn
trong tiểu sử Cha Phaolô Châu, nguyên Giám Đốc Chủng Viện Làng Sông, ghi
rằng:”Cha Châu sinh tại Bình Định, làng Xuân Hương, Gò Thị hội. Cha là
Hoà, mẹ là Nguyện; cả hai đạo dòng, sanh lý thương mãi, đủ ăn đủ mặc,
không tham ô, không ngược xuôi với ai. (Có bà con với Chơn Phước Năm
Thuông). Khi chín mười tuổi, cha mẹ cho đi học văn. Học mau, hiểu lẹ,
sáng dạ hơn hết cả lớp tuổi với người.
“Vừa mười ba tuổi, cha mẹ dưng hầu
Đức Cha. Người thấy trẻ sáng trí, tính hiền nết tốt, tử tế thì sai qua
Pinang. Học bảy năm, đặng tiếng các cha giáo trường khen rằng: “Học giỏi
sảo thông, luật mẹo chín chắn, đạo đức đủ bề, đã nên trò tốt”. Mãn học,
Đức Cha đòi về, sai đi giúp giảng đạo ba năm. Đến đâu siêng năng giúp
dạy người ta, ân cần lo việc bổn phận, ăn nói hiền lành, dịu dàng khiêm
nhượng; ai ai cũng đều yêu vì tôn phục.
“Sau Đức Cha phong chức cho người
tại Gia Hựu, và sai vô cai trường Mương Lở, chừng ba năm. Mà khi nhà
trường nầy nhập vào trường Làng Sông, thì người coi bổn đạo ngoài ấy,
đâu hai tháng. Lại khi Cha Tư bị bắt, thì Đức Cha sai người vô trường
Làng Sông, cai thế đó gần hai năm.
“Đến khi có chỉ ra bắt bổn đạo đi
phân sáp, cùng truyền phá nhà bổn đạo hết, cho nên các chú ở nhà trường
không được nữa, thì Đức Cha dạy người lo chở các chú vô Gia Định; nên
người dọn đem đồ cần dùng, và mướn đặng một chiếc ghe kẻ ngoại, lại dặn
các chú phải chia nhau ở xung quanh gần chổ ghe đậu mà đợi người. Mà có
bữa kia người xuống một mình dưới ghe ấy, có ý gặp lái ghe, mà hỏi thăm
cho biết ngày nào chạy, thì có một tên thơ lại, và chức việc làng tới
bắt người trong ghe tại sông Dinh gần nhà trường, liền gia giang giáo
mác dùi gậy, giải về huyện, tra hỏi căn do, tên tuổi chức phận. Người
xưng ngay mình là đạo trưởng, tức thì quan huyện giải người nạp tỉnh.
“.......
“Bấy giờ nghe tiếng truyền rằng: hễ
nghe ba hồi chiêng rồi, thì cứ y như lịnh dạy; mà khi mới nghe một hai
tiếng chiêng, tức thì nó đã chém rồi.... khi ấy bổn đạo ở xung quanh
khóc om sòm, cùng chạy lại lấy vải thấm máu; đoạn thầy Khoa lo chôn cất
phô đứng ấy nơi xử. Đến khi cha Triết lấy cốt đem về Gò Thị, rồi chở vô
nhà trường Làng Sông, táng trong nhà thờ. Trước năm ất dậu dỡ nhà thờ ấy,
thì lấy cốt vào quách, để trong phòng nhà thờ mới; đến năm giặc, phải
thân hào phá mất hết, chỉ còn một mình xác cha Châu mà thôi, vì các cha
nhà trường Pinang đã xin cùng chôn tại nhà thờ”.3
Cha Châu bị sát hại tại Gò Chàm,
Bình Định vào năm thứ 15 triều đại Tự Đức, tức năm 1862 (dương lịch)4.
Căn cứ vào các tài liệu nầy, chúng ta có thể xác định Cha Phaolô Châu
thụ phong linh mục khoảng năm 1856; ‘cai trường’ Mương Lở5
từ năm 1856 –1859; ‘cai trường’ Làng Sông từ năm 1859 đến khi bị bắt
(1861). Như vậy ‘trường Làng Sông’ và ‘trường Mương Lở’ được thành lập
khi nào?.
Từ khi Giáo Phận Đàng Trong được
thành lập (1659) cho đến thời Đức Cha Cuénot Thể về ở tại Gò Thị (1839),
chưa có Chủng viện nào được thành lập tại phần đất thuộc Giáo Phận Quy
Nhơn ngày nay. Trong hoàn cảnh bị cấm đạo, việc huấn luyện chủng sinh
trong một Chủng viện có quy củ là việc không thể dễ dàng. Tuỳ hoàn cảnh,
các thừa sai có thể nhận nuôi dạy vài ba học trò tiếng La tinh, sau đó
tìm cách gởi qua Chủng Viện Pinang để được đào tạo. Sau thời điểm Công
Nghị Giáo Phận Đàng Trong được Đức Cha Cuénot Thể tổ chức tại Gò Thị6,
chủng viện mới được thành lập: “Đức Cha lại lập nhà trường qui học trò
tập học tiếng latinh, để nữa lựa gởi qua học Pinăng, hầu sau về làm thầy
cả, giúp việc linh hồn người ta, cùng mở rộng Hội Thánh Nam Kỳ cho càng
ngày càng thạnh. Vậy đã lập một trường tại tỉnh Quảng Nam, chính họ Tùng
Sơn; còn tỉnh Bình Định, một trường tại họ Mương Lở, và một trường tại
họ Làng Sông”.7
Thời điểm năm 1850, sau khi Toà
Thánh lấy hai tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị và nửa tỉnh Quảng Bình lập
thành Giáo Phận Bắc Đàng Trong, phần còn lại vẫn giữ tên Giáo Phận Đông
Đàng Trong, gồm các tỉnh từ Quảng Nam tới Bình Thuận, lúc bấy giờ tại
Chủng Viện Làng Sông và Mương Lở đã có 60 chủng sinh8.
Các chủng viện nầy sinh hoạt tương
đối ổn định cho đến năm 1859, thời điểm Vua Tự Đức ra sắc dụ cấm đạo.
Sau khi sắc dụ cấm đạo được ban hành, Đức Cha Cuénot cho giải thể chủng
viện Tùng Sơn và Mương Lở, chỉ mình chủng viện Làng Sông còn sinh hoạt,
lúc bấy giờ Cha Tư đang làm giám đốc. Đang lúc cấm đạo gắt gao, “Tự Đức
thập nhị niên, thập ngoạt, Cha Tư cai trường Làng Sông cỡi ngựa ra Gò
Thị, hầu Đức Cha mà bàn tính việc. Đến nửa đàng, Cha phải bắt tại Kỳ Sơn,
cùng giải lên tỉnh, nạp cho quan Tổng đốc”9. Sau khi Cha Tư
bị bắt, Cha Phaolô Châu từ Mương Lở về thay thế. Hai năm sau, năm 1861,
chiếu chỉ phân sáp của Vua Tự Đức được các quan thi hành triệt để. Đức
Cha Cuénot Thể bị bắt ngày 24-10-1861 và trút hơi thở cuối cùng tại nhà
giam Bình Định vào đêm 14-11-1861. Cha Phaolô Châu cũng bị bắt và chịu
xử trảm tại Gò Chàm, Bình Định vào tháng 5 năm 1862. Do tình hình cấm
đạo gắt gao như thế, Chủng viện không còn sinh hoạt được nữa.
Ngày 25 tháng 8 năm 1862, Vua tự
Đức hạ chỉ ân xá cho các tù nhân, trong đó lệnh phân sáp người công giáo
cũng được bãi bỏ. Lúc bấy giờ, đoàn tín hữu đã tan nát, phân tán khắp
nơi. Cha Herrengt, Cha Jean Claude Roy cùng hai Cha già người Việt và
mười hai chủng sinh đã vâng lệnh Đức Cha Cuénot di cư vào Gia Định từ
hôm 21-8-1861. Cha Charles Herrengt, Cha chính của Giáo phận đã ở Gia
Định, trong khi chờ được trở về Giáo phận, ngài được bổ nhiệm làm Cha sở
Xóm Chiếu. Ngài qua đời ngày 20 tháng 6 năm 1863 tại Sài Gòn. Trong khi
đó “Các Cha phần nhiều bị bắt: Cha Châu cai trường Làng Sông...; Cha
Luận và Cha Hân đã trốn lên núi phía trên cửa Giã cũng bị làng đuổi theo
bắt mà nộp quan; Cha Huệ, Cha Sự, Cha Bửu đã xuống ghe ông Qui và ông Me
mà trốn dưới sông dưới sát, rủi phải kẻ ngoại tìm đặng mà giải lên thành;
sau hết Cha Thủ cũng bị bắt ngoài Bồng Sơn, mà điệu vào tỉnh.
“Có Cha sống sót, giả đạo chúng mà
phân sáp, như Cha Vịnh, Cha Khương, cũng khổ cực chua xót. Lại cũng có
Cha như Cha Triết, tính bạo dạn, chuyên lo ẩn mình, giả dạng đi làm
phước cho bổn đạo khắp nơi cấm cố, hay là lén vào tù thăm viếng phô kẻ
bị giam cầm vì Chúa..”10
Trong tình trạng thiếu Linh mục
trầm trọng như thế, việc đào tạo Linh mục phải là một ưu tiên hàng đầu
và khẩn cấp hơn lúc nào hết. Do đó, có thể các Chủng sinh được tái quy
tụ về Làng Sông trong thời điểm sớm nhất sau ngày 25 tháng 8 năm 1862,
ngày Vua Tự Đức hạ chỉ bãi bỏ lệnh phân sáp.
Từ ngày Đức Cha Cuéot Thể qua đời
cho đến năm 1865, Giáo phận mới có chủ chăn. Đức Cha Eugène Charbonnier
Trí, một thừa sai làm việc ở Đàng Ngoài, đã bị bắt năm 1861, đã nếm cảnh
lao tù, đòn vọt, đã bị kết án tử, nhưng rồi được tha và bị trục xuất về
Âu châu. Ngày 27 tháng 12 năm 1864, Ngài được tấn phong Giám mục tại nhà
nguyện Chủng viện Hội Thừa Sai nước ngoài Paris. Ngày 13 tháng 4 năm
1865, sau khi nhận phép lành của Đức Thánh Cha Piô IX, Ngài lên đường
đến Giáo phận Đông Đàng Trong. Ngày 14 tháng 7 năm 1865, đoàn tín hữu
còn rỏ ràng hai chữ ‘tả đạo’ trên má, vui mừng đón nhận vị chủ chăn của
mình. Năm 1865, có 21 Chủng sinh đang theo học tại Chủng viện Pinang và
20 Chủng sinh được Đức Cha đón nhận tại Gia Hựu11. Sau 13 năm
chăm sóc Giáo phận, Thứ Tư, ngày 7 tháng 8 năm 1878, Ngài trút hơi thở
cuối cùng. Trong 13 năm chăm sóc Giáo phận, Đức Cha Charbonnier đã tổ
chức việc đào tạo Linh mục bản xứ: lập Đại Chủng Viện Nước Nhỉ và tái
lập Tiểu Chủng Viện Làng Sông. Ngày Ngài qua đời, đã có 30 Đại Chủng
sinh tại Đại Chủng Viện Nước Nhỉ và 50 Chủng sinh tại Tiểu Chủng Viện
Làng Sông.12
Các tài liệu trên đây đã hé mở cho
chúng ta phần nào về nguồn gốc Chủng Viện Làng Sông. Trong thư luân lưu
của Đức Cha Đaminh Hoàng Văn Đoàn, ngày 22 tháng 8 năm 1962, có chỉ
thị:“Thể theo ý nguyện của Thánh Bộ, sau khi đã bàn với ban tư vấn, và
được sự đồng ý của Đức Giám mục Đà Nẵng, tôi định ngày 14 tháng I dl.
1964 tại Chủng viện Làng Sông sẽ khai mạc tuần tam nhật để kỷ niệm đệ tứ
bách chu niên ngày Công Đồng Tridentinô quyết định thành lập các Chủng
viện. Cha Giám đốc, các Cha giáo sư Làng Sông vui lòng phụ trách tổ chức
cuộc lễ. Chương trình sẽ gởi sau”13. Thư luân lưu nầy không
đề cập gì đến việc mừng kỷ niệm 100 năm Chủng Viện Làng Sông. Ngày Chủng
Viện Làng Sông mừng kỷ niệm 100 năm thành lập, theo như Cha Phêrô Huỳnh
Kim Lăng, ‘người đương thời’ cùng với Cha Phaolô Nguyễn Thanh Bình14,
đứng ra tổ chức đại lễ kỷ niệm ấy, đã cho biết: “Việc mừng kỷ niệm 100
thành lập Chủng viện Làng Sông nhân dịp kỷ niệm 400 năm công đồng
Tridentinô ra quyết định thành lập các Chủng viện, nhằm mục đích cổ võ
ơn thiên triệu và đề cao Chủng viện là một tổ chức nòng cốt của Địa phận
đã có một lịch sử lâu dài ”.
Sau cuộc lễ đại kỷ niệm nầy, vì
tình hình an ninh, ngày 02 tháng 10 năm 1964, Hội Đồng Chủng Viện đã
quyết định với sự đồng ý của Bề trên Địa phận, cho hai lớp Đệ nhị và Đệ
tam xuống Quy Nhơn lưu học tại trường La San. Tháng 3 năm 1965, Bề trên
Địa phận cho phép bãi trường sớm và quyết định niên khoá 1965-1966, tất
cả các lớp tựu về học tại cơ sở Bình Lợi cũ ở Quy Nhơn, cạnh nhà thờ
Chính toà. Vì nhu cầu cho 197 Chủng sinh trong niên khoá nầy, Ban Giám
Đốc cho dựng thêm một nhà cơm, một nhà chơi và một nhà ngủ. Ngày 02
tháng 02 năm 1968, Tiểu Chủng Viện Quy Nhơn được khởi công xây dựng và
hoàn thành ngày 20 tháng 5 năm 1972.15
Cho đến hôm nay, Tiểu Chủng Viện
Làng Sông & Quy Nhơn đã trải qua chặng đường lịch sử khá lâu dài với
những thăng trầm, hưng thịnh, có lúc ngừng nghỉ, có lúc hoạt động như
những nhịp đập của quả tim, lúc thì mở rộng tuôn máu ra khắp cơ thể, lúc
thì khép lại, hút máu quy tụ về. Ngày hôm nay, những sinh hoạt rộn rã,
những âm thanh bài thánh ca đồng giọng “đực rựa”, những giọng tập đọc
tiếng Pháp, tiếng Latinh trong các giờ lớp, những âm thanh thình thịch
của giờ đá banh, mùi khói trấu nấu cơm từ nhà bếp... đã nhường chỗ cho
tiếng lao xao rì rào của hàng cây sao, cho những tiếng cúc cu của bầy
chim gáy, cho những âm thanh ri rỉ của dế mèn. Sự tĩnh mịch của Chủng
Viện Làng Sông hôm nay như nhịp tim đang khép lại, hút máu quy tụ về.
Bởi lẽ, những con người đã từng được sống nơi đây, đã từng đồng ẩm đồng
thực cơm gạo đồng với nước mắm cá cơm, có khi cơm ghé khoai bắp với chút
hương vị trứng luộc hay canh rau tạp tàng, tất cả đều được nhận lệnh của
Thầy Chí Thánh: “Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho
mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15). Dù hôm nay người đã nằm xuống trong lòng
đất lạnh hay người đang rong ruổi trên mọi nẻo đường, lệnh của Thầy Chí
Thánh vẫn được thi hành trong cầu nguyện, trong hy sinh, trong công việc
bổn phận, trong công việc tông đồ.
1 Ngày 22/02/1963 Thánh
Bộ Chủng Viện và Đại Học ra Văn thư số 348/63 gởi đến các Đấng Bản Quyền,
ước mong các Đấng Bản Quyền sẽ tuỳ theo hoàn cảnh và phương tiện mà tổ
chức mừng kỷ niệm. Trong Địa phận Quy Nhơn, Đấng Bản Quyền đã ấn định
ngày 14-01-1964 tổ chức mừng lễ kỷ niệm tại Làng Sông. (Thông tin Địa
phận số 38, tháng 9 năm 1963, trang 05).
2 Thông tin Địa Phận số
42, tháng 4 năm 1964, trang 16.
3 Mm. 29 Fevrier 1909,
p. 76-80.
4 Mm. 29 Fevrier 1909,
p. 86-87.
5 Mương Lở, ngày nay là
giáo họ Hoà Mục thuộc thôn Hoà Hiệp, xã Cát Tài, huyện Phù Cát, tỉnh
Bình Định.
6 Công Nghị được nhóm
họp vào ngày mồng 05, mồng 06 và mồng 10 tháng 8 năm
1841 (Dl).
7 R.P. Tardieu, Hạnh
Đức Cha Thể, Lang-Song imp. de la mission 1907, trang 43.
8 P. Durand, Les
Missions Catholiques No. 3123, 1er, Dec. 1930, p. 539.
9 R.P. Tardieu, Hạnh
Đức Cha Thể, Lang-Song imp. de la mission 1907, trang 70.
10 R.P. Tardieu, Hạnh
Đức Cha Thể, Lang Song imp. de la mission, 1907, p. 76-77.
11 P. Durand, Les
Misions Catholiques, no. 3123, 1er Dec. 1930, p. 539.
12 P. Durand, Les
Misions Catholiques, no. 3123, 1er Dec. 1930, p. 543.
13 Thông tin Địa phận số
38, tháng 9-1963, trang 5.
14 Cha Phaolô Bình qua
đời ngày 07-3-2007. Bài nầy được viết khi Cha Phaolô còn sống.
15 Thông tin Địa phận số
72, tháng 06 năm 1972, trang 01.
LM. Võ Đình Đệ
|
|